Tuổi trẻ họ Trịnh thăm, viếng Trung tướng Trịnh Trân, con người hết lòng vì đất nước, dòng họ Trịnh..

0

TRUNG TƯỚNG TRỊNH TRÂN, VỊ TƯỚNG TÀI BA CỦA ĐẤT NƯỚC, CON NGƯỜI LÀM VẺ VANG DÒNG TỘC TRỊNH VIỆT NAM…

22-1

TRUNG TƯỚNG TRỊNH TRÂN – DÒNG DÕI KHAI QUỐC CÔNG THẦN, LIỆT QUỐC CÔNG TRỊNH KHẢ

NGUYÊN CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG HỌ TRỊNH VIỆT NAM

Ngày 03/4/2016, Hội đồng tuổi trẻ Trịnh tộc Việt Nam, thừa ủy quyền của Hội đồng Họ Trịnh Việt Nam đến thăm, viếng và trao truy tặng bằng Vinh danh của Hội đồng Họ Trịnh Việt Nam lần đầu tiên cho những cống hiến to lớn của Trung tướng Trịnh Trân, nguyên Chủ tịch Hội đồng họ Trịnh Việt Nam vì những đóng góp của ông cho việc phát triển phong trào họ Trịnh, gây dựng các cơ sở là hội đồng các dòng họ Trịnh cả nước và có công trong việc “đòi lại” những giá trị vốn có của họ Trịnh trong công cuộc dựng nước và giữ nước… Đến thăm, viếng anh linh cụ Trịnh Trân, tuổi trẻ họ Trịnh được hiểu biết thêm về người con họ Trịnh, dòng dõi của Khai quốc công thần, Liệt Quốc công Trịnh Khả, người có công đóng góp rất lớn cho sự nghiệp bảo vệ biên cương của Tổ quốc ta, nối tiếp truyền thống yêu nước, sẵn sàng hy sinh, cống hiến cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước, giữ vững nền độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc… Tuổi trẻ họ Trịnh tự hào về người ông, người tướng tài ba Trịnh Trân, đã làm vẻ vang truyền thống của họ Trịnh Việt Nam anh hùng….

12938142_220785708279369_5825902957706633050_n

2. Thân thế và sự nghiệp của Trung tướng Trịnh Trân

Sinh ngày 25/11/1928, ở thôn Cự Đà, xã Cự Khê, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây, nhưng tuổi thơ của Trung tướng Trịnh Trân lại gắn bó với khu phố Vườn Cam, thị xã Cao Bằng. Vì nhà nghèo gia đình phải phiêu bạt lên xứ gạo trắng nước trong, bởi âm hưởng của câu ca dao “Mình về nuôi cái cùng con; để anh đi trẩy nước non Cao Bằng”. Lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, nhìn dòng Bằng Giang cuộn chảy, nghe tiếng còi tầm của thực dân Pháp gọi quân ở pháo đài thị xã đã gieo vào lòng đồng chí Trịnh Trân chí căm thù giặc sâu sắc và lòng yêu nước nồng nàn.

12919712_220783948279545_7484916485382384523_n

Ngày 8/2/1941, Chủ tịch Hồ Chí Minh về Pác Bó, Trường Hà, dòng chảy cách mạng từ Đôn Chương, Hà Quảng nhanh chóng lan xuống thị xã Cao Bằng tạo thành phong trào cách mạng sục sôi, trong lòng người thanh niên quê lụa tràn ngập niềm vui, cùng đoàn người dao phay, mã tấu đứng lên biểu tình chống lại sự đàn áp hà khắc của thực dân Pháp, thực hiện khẩu hiệu “Người cày có ruộng” khao khát sự đổi đời đến với mọi người.

Được cách mạng giác ngộ, tháng 5/1945, đồng chí Trịnh Trân gia nhập Mặt trận Việt minh thuộc khu Nước Giáp và tham gia cướp chính quyền tại thị xã Cao Bằng ngày 21/8/1945. Cách mạng Tháng Tám thành công, đồng chí Trịnh Trân tham gia vệ quốc đoàn và được cử đi học lớp quân chính để về xây dựng lực lượng Công an và phong trào bình dân học vụ ở địa phương. Tháng 1/1947, được cử đi học Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn khóa 2 (nay là Trường Sĩ quan Lục quân 1), sau khi ra trường về tham gia chiến dịch Việt Bắc tại quê hương cách mạng Cao Bằng.

12592258_220786734945933_6067473322370683102_n

Từ một sĩ quan tham mưu tác chiến, chỉ huy Liên đội vũ trang tuyên truyền hoạt động phá tề trừ gian trong vùng địch hậu; Đội trưởng Đội Biệt động Trung đoàn 74, Cao Bằng; Chính trị viên Tiểu đoàn 251, Trung đoàn 174, Sư đoàn 316; cán bộ Cục Địch vận, Tổng cục Chính trị, phụ trách tù hàng binh, đến tháng 10/1959, đồng chí Trịnh Trân được bổ nhiệm Trưởng phòng Dân vận, Cục Chính trị, Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang. Đây là bước ngoặt quan trọng để rồi 40 năm sau đó, đồng chí Trịnh Trân gắn bó với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới.

Tháng 11/1961 đến tháng 11/1980, đồng chí Trịnh Trân được bổ nhiệm làm Phó Văn phòng, Phó Tham mưu trưởng, Tham mưu trưởng Công an nhân dân vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng). Do sắc sảo trong công việc, nhạy bén trong chỉ đạo, tháng 12/1980, được bổ nhiệm Phó Tư lệnh và đến tháng 9/1990 làm Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Bộ đội Biên phòng.

Từ tháng 9/1991 đến tháng 11/1998 là Ủy viên Đảng ủy Công an Trung ương, Đại biểu Quốc hội, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng an ninh Quốc hội khóa IX. Do có nhiều công lao đóng góp cho cách mạng, tháng 4/1984, đồng chí Trịnh Trân được phong quân hàm Thiếu tướng và đến tháng 12/1992 được phong quân hàm Trung tướng.

Trên cương vị là Tư lệnh Bộ đội Biên phòng với tầm cao chiến lược, Trung tướng Trịnh Trân nhận thức sâu sắc rằng, biên giới – bờ biển, hải đảo, mảnh đất phên giậu của nước ta có vị trí chiến lược về an ninh, quốc phòng và đối ngoại. Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta mà trước hết là người dân nơi tuyến đầu biên giới đã đoàn kết một lòng, hy sinh xương máu để giữ gìn từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc.

Từ thực tế sinh động của phong trào toàn dân tham gia bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, đồng chí Trịnh Trân đã cùng tập thể Đảng ủy, Bộ Tư lệnh tham mưu cho Hội đồng Bộ trưởng, nay là Chính phủ ban hành Quyết định 16, lấy ngày 3/3 hàng năm là “Ngày Biên phòng toàn dân” huy động sức mạnh cả nước vào sự nghiệp bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới.

Để cụ thể hóa ngày Biên phòng trong tình hình mới, Trung tướng Trịnh Trân ngày đêm trăn trở, cùng Bộ Tư lệnh đề xuất Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị 15, tăng cường chỉ đạo, xây dựng phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng an ninh ở các xã, phường biên giới, biển đảo. Qua 17 năm thực hiện Ngày Biên phòng và 8 năm thực hiện Chỉ thị 15 của Thủ tướng Chính phủ, thế trận biên phòng được củng cố và nâng lên tầm cao mới, phong trào bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới phát triển cả chiều rộng và chiều sâu, tạo thành sức mạnh to lớn để quân, dân biên giới ngày đêm vững vàng bám trụ nơi biên cương Tổ quốc.

Dấu chân của Trung tướng Trịnh Trân đã in đậm trên khắp nẻo đường biên giới, hải đảo với tâm niệm là xây dựng, củng cố và nâng cao hiệu quả phòng tuyến biên phòng. Trên 40 năm gắn bó với lực lượng, Trung tướng Trịnh Trân đã xây dựng cho Bộ đội Biên phòng lớp cán bộ, chiến sĩ bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên trì bám đất, bám dân, vượt qua mọi hy sinh, thử thách, sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới.

Tuy được Nhà nước cho nghỉ, nhưng Trung tướng Trịnh Trân vẫn dành thời gian nghiên cứu các tài liệu, tổng kết thành bài học, giúp cho Bộ đội Biên phòng những kinh nghiệm quý báu về công tác quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới. Trải qua nhiều cam go thử thách, đảm nhận nhiều cương vị công tác khác nhau, Trung tướng Trịnh Trân là một vị Tư lệnh giỏi cả về chính trị và quân sự, luôn kiên định vững vàng trước phong ba, bão táp, là tấm gương sáng về lòng trung thành với lý tưởng cách mạng, trọn nghĩa, vẹn tình với anh em đồng chí, được cán bộ, chiến sĩ lực lượng Bộ đội Biên phòng và nhân dân biên giới tin yêu quý trọng.

Quá trình tham gia hoạt động cách mạng của đồng chí Trịnh Trân

– Từ tháng 4/1945 đến 8/1945 – Tham gia Thanh niên cứu quốc, Mặt trận Việt Minh khởi nghĩa tại thị xã Cao Bằng.

– Từ tháng 9/1945 đến 12/1946 – Tham gia Vệ quốc quân chi đội A Cao Bằng, cử về thị xã xây dựng tự vệ, hoạt động ở địa phương.

– Từ tháng 1/1947 đến 10/1947 – Học viên Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn khóa 2.

– Từ tháng 11/1947 đến 12/1949 – Trợ lý tham mưu tác chiến, Chỉ huy Liên đội vũ trang, Đội trưởng Đội Biệt động thuộc E74 Cao Bằng.

– Từ tháng 1/1950 đến 6/1953 – Chính trị viên C674, Chính trị viên phó, Chính trị viên Tiểu đoàn 251.E174, F316.

– Từ tháng 7/1953 đến 8/1954 – Bổ túc chính trị trung cấp, Đội trưởng Đội phát động giảm tô đợt 1, 2; cán bộ Cục Địch vận Tổng cục Chính trị.

– Từ tháng 9/1954 đến 9/1959 – Trưởng ban Tuyên huấn Phòng Chính trị F350, Phó phòng Địch vận Tổng cục Chính trị.

– Từ tháng 10/1959 đến 10/1961 – Trưởng phòng Dân vận Cục Chính trị Công an nhân dân vũ trang (CANDVT).

– Từ tháng 11/1961 đến 4/1963 – Phó Văn phòng Bộ Tư lệnh CANDVT.

– Từ tháng 5/1963 đến 11/1974 – Phó Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh CANDVT, Học viên Trường Nguyễn Ái Quốc, Trưởng ban Nghiên cứu Khoa học Biên phòng.

– Từ tháng 12/1974 đến 11/1980 – Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh CANDVT.

– Từ tháng 12/1980 đến 4/1990 – Phó Tư lệnh – Tham mưu trưởng BĐBP.

– Từ tháng 5/1990 đến 8/1991 – Quyền Tư lệnh BĐBP.

– Từ tháng 9/1991 đến 11/1998 – Ủy viên Đảng ủy Công an Trung ương – Bí thư Đảng ủy, Tư lệnh BĐBP.

– Từ năm 1992 đến 1997 – Đại biểu Quốc hội, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng an ninh Quốc hội khóa IX.

– Đồng chí Trịnh Trân được phong quân hàm Thiếu tướng tháng 4/1984, Trung tướng tháng 12-1992.

– Tháng 12/1999 đồng chí được Nhà nước cho nghỉ hưu.

Do những cống hiến xuất sắc cho sự nghiệp cách mạng, đồng chí Trung tướng Trịnh Trân được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng nhì, hạng ba và nhiều Huân chương cao quý khác.

3. Những chiến công đáng nhớ của Trung tướng Trịnh Trân

cot-co-lung-cu

Nhận được tin của cơ sở báo, đêm 28-7-1963, một toán gián điệp biệt kích của Tưởng Giới Thạch sẽ xâm nhập vùng biển Hải Ninh, để đi sâu vào vùng Thập Vạn Đại Sơn giáp biên giới, lập căn cứ chống phá cách mạng hai nước Việt – Trung, Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang (CANDVT) đã nhanh chóng cử Cục phó Cục Tham mưu Trịnh Trân xuống Hải Ninh, trực tiếp chỉ đạo “lót ổ” chờ địch đến để đánh bắt, khai thác tài liệu, phục vụ cho công tác đánh địch trước mắt và lâu dài. Đến Hải Ninh, ông nhanh chóng bàn với Ban chỉ huy CANDVT tỉnh triển khai một đại đội theo phương án đã vạch sẵn, ém quân trên bờ biển chờ địch tới. Đúng 12 giờ đêm 28-7-1963, tổ cảnh giới phát hiện 3 chiếc xuồng máy từ khơi xa đang tiến dần vào bờ. Chờ cho địch đổ quân xong, theo phương án mà ông đã vạch, các hướng, các mũi xông ra vây bắt được 14 tên, tiêu diệt 5 tên ngoan cố chống cự. Bọn còn lại vội chạy thục mạng vào khu rừng Tấn Mài, thuộc huyện Hà Cối.

Ngay sau đó, Cục phó Trịnh Trân cho các trinh sát khai thác bọn bị bắt, biết chúng có 26 tên do Thượng tá đặc vụ Trịnh Kỳ Thiệu chỉ huy. Sau khi phân tích lời khai của bọn bị bắt, biết Trịnh Kỳ Thiệu và một số tên cầm đầu đã trốn vào rừng, Cục phó Trịnh Trân cùng với cấp dưới vạch phương án chỉ đạo các mũi, các hướng tiếp tục truy lùng, vây bắt số còn lại. Sau 10 ngày kiên trì lùng sục trong rừng, đến đêm 8-8-1963, các chiến sĩ CANDVT Hải Ninh mới bắt được tên toán trưởng Trịnh Kỳ Thiệu tại Pò Hèn, Móng Cái. Hai ngày sau đó, các chiến sĩ bắt được tên cuối cùng trong số trốn vào rừng ở cống Nam Châu (Hà Cối). Vụ đặc vụ Tưởng Giới Thạch xâm nhập vùng biển Hải Ninh kết thúc. Ta đã bắt sống 18 tên, tiêu diệt 6 tên, bắn bị thương 2 tên, thu 3 xuồng máy và các loại vũ khí, điện đài, phá tan âm mưu lập căn cứ chống phá cách mạng hai nước Việt – Trung.

Ngày 12-7-1964, Tòa án Quân sự Quân khu Tả Ngạn đã mở phiên tòa xét xử công khai toán đặc vụ do Trịnh Kỳ Thiệu chỉ huy. Các tên Trịnh Kỳ Thiệu, Diệp Đình Hưng, Trần Nhuận Đào bị tử hình. Những tên còn lại bị phạt từ 5 năm đến 20 năm tù.

45179951-7b
Trung tướng Trịnh Trân cũng đã đôi lần kể cho tôi nghe chuyện ông được Bộ Tư lệnh CANDVT cử vào Nghệ An, trực tiếp chỉ đạo phá vụ “Châu Phà” ở Kỳ Sơn những năm 1963-1964.Cuối tháng 12-1963, bọn phỉ lén lút xâm nhập vào địa bàn xã Huổi Tụ, cưỡng ép hơn 100 gia đình người Mông di cư sang Huổi Khắc (Lào) để theo “vua Mông”. Trước nguy cơ đồng bào Mông bị địch cưỡng ép di cư ồ ạt, Bộ Tư lệnh cử ông Trịnh Trân vào bàn với Tỉnh ủy Nghệ An các phương án nhanh chóng ổn định tình hình nhân dân khu vực biên giới, thành lập Ban chỉ đạo chống “Châu Phà” và tiễu phỉ. Lực lượng tham gia gồm Tiểu khu 78 CANDVT Nghệ An và Đại đội 5, Đoàn Thanh Xuyên CANDVT, phối hợp với dân quân địa phương và Bộ đội Pa-thét (Lào).Trong thời gian này, bọn phỉ do Tổng Dinh, Xây Xua, Bả Cân chỉ huy được địch từ bên ngoài chỉ đạo, đã ngăn cấm dân vùng Phà Bún không được tiếp xúc với ta. Chúng đã xây dựng căn cứ cố thủ, bắt dân sống tập trung xung quanh căn cứ để làm “hàng rào sống” bảo vệ chúng. Với phương châm đánh địch nhưng phải bảo vệ an toàn cho nhân dân, ông Trịnh Trân chỉ đạo cho lực lượng trinh sát CANDVT bí mật luồn sâu vào căn cứ của địch, đánh từ trong đánh ra, đồng thời trinh sát đến từng nhà dân tuyên truyền cho bà con hiểu âm mưu thâm độc của kẻ thù, để họ vận động chồng, con, em bỏ hàng ngũ phỉ trở về làm ăn lương thiện. Với cách đánh sáng tạo trên, ta diệt được 20 tên, bắn bị thương 5 tên, đốt cháy nhà 8 mái của bọn chỉ huy phỉ, số còn lại ngoan cố chạy vào rừng đến các cụm phỉ khác ở dọc biên giới lẩn trốn.

Tiếp đó, ông Trịnh Trân chỉ đạo các đơn vị Tiểu khu 78 và Đoàn Thanh Xuyên phối hợp với Bộ đội Pa-thét Lào truy quét các cụm phỉ Phù Xa Bớt, Keo Bón và các ổ phản động Thái Mèo lưu vong dọc biên giới, bắt và tiêu diệt gần 200 tên, thu nhiều vũ khí và phương tiện phá hoại của địch. Ngày 4-4-1964, có khoảng 100 tên phỉ do tên Ba Dô chỉ huy, tập kích vào xã Xém Nhơm và Keng Đu. Ngày 23-6, khoảng 60 tên dưới sự chỉ huy của tên Lý Tổng Dinh, Cút Phờ Nên, chia làm 3 mũi định tập kích vào trụ sở ủy ban, trường học, cửa hàng mậu dịch Mường Lóng. Nắm được ý đồ và kế hoạch của địch, ông Trịnh Trân chỉ đạo các đơn vị CANDVT phối hợp với bộ đội địa phương và dân quân “bày sẵn” trận địa phục kích, chờ địch đến bao vây tiêu diệt gọn. Ông Trịnh Trân tiết lộ, trong trận đánh thọc sâu vào nhà 8 mái của địch, ta còn thu được một bản danh sách các cơ sở của phỉ ở 94 bản, thuộc huyện Kỳ Sơn và Tương Dương. Từ ngày 15-7 đến cuối năm 1964, ta tiếp tục phối hợp với Bộ đội Pa-thét Lào mở nhiều đợt truy quét các căn cứ phỉ của Vàng Pao ở Mường Mộc, Mường Mô, Sầm Chè, Mường Ngát… dẹp yên vụ bạo loạn.

Ngày 21-3-1975, bộ đội ta mở chiến dịch giải phóng Huế và Đà Nẵng. Ông Trịnh Trân được Bộ Tư lệnh cử vào chiến trường B2, vượt Trường Sơn đến Tây Ninh, trước khi chiến dịch Hồ Chí Minh mở màn. Nhiệm vụ của ông là giúp Ban Chỉ huy An ninh vũ trang miền Nam các mặt công tác xây dựng, chiến đấu, bảo vệ; đồng thời nghiên cứu, khảo sát tình hình biên giới, bờ biển, vùng mới giải phóng, đề xuất với cấp ủy, chính quyền địa phương phương án tổ chức hệ thống đồn, trạm biên phòng. Với kinh nghiệm chỉ đạo công tác bảo vệ mục tiêu nội địa, cửa khẩu ở miền Bắc, ông trực tiếp hướng dẫn kế hoạch tiếp quản sân bay Tân Sơn Nhất, cảng Sài Gòn, Tổng nha Cảnh sát ngụy, ngân hàng, cảng xăng dầu Nhà Bè. Chỉ mấy ngày sau giải phóng, hệ thống cảng Sài Gòn từ bến Nhà Rồng, Khánh Hội, Tân Thuận, Bến Nghé đến Nhà Bè đã hoạt động trở lại. Các tàu của Liên Xô, Trung Quốc và các nước Xã hội chủ nghĩa tấp nập vào ra. Sân bay Tân Sơn Nhất cũng nhanh chóng ổn định, đón các đoàn lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và bạn bè quốc tế vào Sài Gòn an toàn tuyệt đối.

Nhiều cán bộ cấp dưới của ông kể lại, là người rất coi trọng công tác tình báo biên phòng, do thấy rõ tầm quan trọng của nó trong công tác bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới, ông thường xuyên chỉ đạo Cục Trinh sát xây dựng kế hoạch củng cố mạng lưới, mở rộng khả năng hoạt động, nhằm thu thập nhiều tin tức có giá trị để đánh địch trước mắt và lâu dài. Thực hiện sự chỉ đạo của ông, công tác tình báo đã có nhiều đổi mới, đến cuối năm 1993, đã có 17 đơn vị triển khai phương thức bí mật, 7 đơn vị kết hợp cả hai phương thức hoạt động là công khai hợp pháp và bí mật.

Đại tá Trần Văn Trí, nguyên Chỉ huy trưởng BĐBP Nghệ An kể: Trong công tác bảo vệ an ninh biên giới, ông là người có tầm nhìn chiến lược. Ngày 7-8-1995, khi nhận được báo cáo của BĐBP Nghệ An, có 2 tên phỉ bị ta bắt từ căn cứ ngoài biên giới, mang theo 50 triệu đồng tiền Việt Nam giao cho Thào Bá Chía và Lý Cha Thào, ở Thẩm Bình (Việt Nam), nhờ mua vũ khí tiếp tế cho phỉ Lào, lập tức, ông chỉ đạo BĐBP Nghệ An nhanh chóng điều tra, xác minh và báo cáo ngay. Sau khi điều tra, thấy cần phải đi sâu nắm chắc âm mưu, thủ đoạn hoạt động của các cụm phỉ và các cơ sở của chúng cài cắm trên đất ta, ông chỉ đạo Bộ Chỉ huy BĐBP Nghệ An xác lập Chuyên án mang bí số V548, do Đại tá Trần Văn Trí làm Trưởng ban Chuyên án. Lực lượng tham gia trực tiếp đánh án gồm 15 cán bộ trinh sát; lực lượng phối hợp gồm 37 cán bộ, chiến sĩ thường xuyên tuần tra, kiểm soát biên phòng. Sau hai năm kiên trì đấu tranh, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tư lệnh Trịnh Trân, lực lượng đánh án đã thực hiện nhiều kế hoạch trinh sát, vận dụng nhiều chiến thuật, cách đánh như: Vận động tấn công chính trị, tác động ra đầu thú, câu nhử, mật phục, kéo địch ra để bắt… Địa bàn đấu tranh Chuyên án V548 rất phức tạp, rừng rậm, nhiều khe suối, thời tiết khắc nghiệt, song với tinh thần kiên quyết tấn công tội phạm, kết quả đã làm rõ được 3 cụm phỉ ở ngoại biên, phát hiện 11 đối tượng trên biên giới ta nằm trong đường dây cung cấp lương thực, vũ khí cho vùng phỉ, thu 47 súng các loại và nhiều hàng hóa mà đối tượng chuẩn bị đưa sang vùng phỉ. Thực hiện kế hoạch câu nhử lực lượng phỉ vào địa bàn để đón bắt, nhưng chúng chống trả quyết liệt, buộc lực lượng ta phải nổ súng tiêu diệt 2 tên phỉ ngoan cố, bắn bị thương 1 tên; BĐBP và dân quân an toàn tuyệt đối.

Chuyên án V548 kết thúc thắng lợi, với tầm nhìn chiến lược, Trung tướng Trịnh Trân đã chỉ đạo xử lý: Lấy mục đích thu hồi vũ khí là chính, chỉ trừ trường hợp đặc biệt nghiêm trọng có tổ chức và đủ yếu tố truy cứu trách nhiệm hình sự, ta mới bắt và xử lý theo pháp luật. Hoạt động của các đối tượng trong Chuyên án V548 rất phức tạp, song xét về động cơ, mục đích thì phần lớn là do nhu cầu kinh tế thôi thúc và sự ràng buộc về dân tộc, thân tộc, anh em dòng họ. Vì vậy, Trung tướng Trịnh Trân chỉ đạo phải giáo dục, cảm hóa, tấn công chính trị, đưa đối tượng về cộng đồng dân cư giáo dục. Việc làm này được Tỉnh ủy Nghệ An rất khâm phục.

55 năm gắn bó với biên cương (1945-1999), từ một người lính đi tiễu phỉ ở biên giới trong những ngày đầu Cách mạng Tháng Tám thành công, Trung tướng Trịnh Trân đã trở thành Tư lệnh BĐBP. Trong chiến đấu, ông thực sự là một người chỉ huy dũng cảm, thông minh, có nhiều cách đánh sáng tạo và có tư duy chiến lược trong bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và an ninh biên giới quốc gia. Trong cuộc sống đời thường, ông sống giản dị, khiêm tốn, nhân ái, bao dung với mọi người, được cán bộ, chiến sĩ các thế hệ Bộ đội Biên phòng và đồng bào các dân tộc yêu mến. Đó là phần thưởng cao quý nhất đối với ông. Biên cương Tổ quốc mãi mãi nhắc tên ông: Trung tướng Trịnh Trân!

(theo báo Biên Phòng)

Share.

About Author

Leave A Reply