TRANG TRỌNG LỄ KỶ NIỆM 360 NĂM NGÀY MẤT THANH ĐÔ VƯƠNG TRỊNH TRÁNG (1657 – 2017)

0

Ngày 11/52017 nhân kỷ niệm 360 năm ngày mất của Thanh Đô Vương Trịnh Tráng (1657 – 2017), Hội đồng họ Trịnh Bình Đà, Thanh Oai, Hà Nội trang trọng tổ chức lễ kỷ niệm tại Xóm Dọc – Bình Minh – Thanh Oai – Hà Nội, đến dự buổi lễ có ông Trịnh Đình Hưng – Chủ tịch Hội đồng họ Trịnh Việt Nam cùng các ông, bà trong Hội đồng họ Trịnh Việt Nam; đại diện Hội đồng họ Trịnh các chi họ trong cả nước như Thanh Hóa, Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Nam Định,…. Đặc biệt có sự tham dự của chi họ Đặng Lương Xá (tổ họ Ngoại của Thanh Đô Vương Trịnh Tráng) và khoảng 600 đại biểu là con cháu họ Trịnh trên cả nước.

18446597_2321963421363065_4194033602317519089_n

(ông Trịnh Đình Hưng – Chủ tịch HĐ họ Trịnh Việt Nam phát biểu)

Tại buổi lễ ông Trịnh Quang Bình, Trưởng họ, Chủ tịch HĐ họ Trịnh Bình Đà đã đọc chúc văn ca ngợi công đức của Thanh Đô Vương Trịnh Tráng, các ông, bà lãnh đạo Hội đồng họ Trịnh Việt Nam có phát biểu ca ngợi công đức của Thanh Đô Vương Trịnh Tráng đối với đất nước và dòng họ, đồng thời đánh giá cao sự chuẩn bị chu đáo, tổ chức chặt chẽ, khoa học của Hội đồng họ Trịnh Bình Đà cho buổi lễ trang trọng.

18403523_1846920895632733_8796855068065315328_n

Nhân dịp này, Ban Văn hóa – sự kiện Hội đồng tuổi trẻ Trịnh tộc Việt Nam xin trân trọng giới thiệu về thân thế sự nghiệp của chúa Trịnh Tráng.

18486189_1846922142299275_4672273793945781359_n 18446927_1321646411275750_3136173552398778030_n (1) 18446725_1321646407942417_4548754129301434633_n  18424110_2307967066095445_2869401400181667513_n   18403037_2307966542762164_1014518262081750907_n 18402797_2307966712762147_6040769054655550188_n

Trịnh Tráng – Thanh Đô vương ( 1577 – 1657)

Chúa thứ hai đời hậu Lê, hiệu là Thanh Đô vương, miếu hiệu Văn tổ Nghị vương, quê làng Sóc Sơn, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, con trưởng Bình An vương Trịnh Tùng.

Trịnh_Tráng

Năm 1623, trước khi mất, Bình An Vương Trịnh Tùng giao binh quyền lại cho ông. Từ đó ông được nối nghiệp chúa. Khi lên ngôi chúa, vua Lê phong ông làm Thái úy Thanh Quốc Công. Tiết chế thủy bộ chư quân.

Lúc bấy giờ con cháu họ Mạc ở Cao Bằng là Mạc Kính Cung tự xưng là Khánh vương từ Thái Nguyên đem quân về đánh phá vùng Gia Lâm và lân cận, nhưng bi ông đánh bại phải rút về Cao Bằng. Sau khi bình định xong họ Mạc, ông đem vua Lê từ Thanh Hóa ra Thăng Long và tự xưng làm Nguyên súy, Thống quốc chính Thanh đô vương. Năm 1625 ông đánh dẹp họ Mạc một lần nữa và bắt giết được Mạc Kính Cung. Từ đó, họ Mạc chỉ còn lại Mạc Kính Khoan ở Cao Bằng phải chịu lệ cống hàng năm.

Thời ông cầm quyền có mấy cuộc chiến tranh lớn với họ Nguyễn ở Đàng Trong, nhưng vẫn không bên nào giành được chiến thắng trọn vẹn.

Ông mất năm Đinh Dậu 1657, ở ngôi chúa được 24 năm.

Thanh Đô Vương Trịnh Tráng (1577 – 1657) là chúa Trịnh thứ 3 thời Lê Trung Hưng và là chúa thứ hai chính thức xưng vương khi còn tại vị, nắm thực quyền cai trị miền Bắc nước Đại Việt từ năm 1623 đến 1657. Về chính trị, ông là người củng cố địa vị cai trị của chế độ “vua Lê chúa Trịnh”; về quân sự, thời kỳ ông cầm quyền là bước chuyển căn bản giữa hai cuộc xung đột Nam-Bắc triều và Trịnh-Nguyễn.

Tiểu sử

Trịnh Tráng là con trưởng của Bình An Vương Trịnh Tùng với bà Đặng Thị Ngọc Giao (con gái Nghĩa quân công Đặng Huấn), từ nhỏ được nuôi dạy đằng ngoại (do bà ngoại và bác ruột Hà Quận Công Đặng Thế Vinh dạy văn hóa) . Ông đã từng nhiều năm giúp cha thiết lập bộ máy cai trị của họ Trịnh sau khi tiếp quản kinh kỳ Thăng Long từ tay nhà Mạc. Ngay khi Trịnh Tráng chưa lên ngôi, mâu thuẫn giữa họ Trịnh và họ Nguyễn phía nam bắt đầu manh nha hình thành. Ông cậu Nguyễn Hoàng ở phía nam muốn giữ hoà khí với cha ông đã gả con gái là Nguyễn Phúc Ngọc Tú cho ông, người mà theo quan hệ họ hàng là cô họ của ông.

13007083_2037198629838958_6258087220631242161_n

(Đám tang chúa Trịnh Tráng – do người phương Tây vẽ lại)

Lên ngôi

Năm 1623, Bình An Vương Trịnh Tùng lâm bệnh nặng, bàn với các quan việc lập thế tử. Các quan đều thống nhất lấy Trịnh Tráng làm người kế vị. Em Trịnh Tráng là Trịnh Xuân khởi binh làm loạn. Trịnh Tráng cùng em cùng cha, cùng mẹ là Trịnh Khải (Dũng Lễ công Trịnh Giai, sau này được chúa Trịnh Tùng cử về cai quản Bình Đà, Thanh Oai, Hà Nội, là tổ của chi họ Bình Đà) mang vua Lê Thần Tông chạy ra ngoài, họp với các quan ở làng Nhân Mục (Thanh Trì) bàn việc đối phó với Trịnh Xuân.

12963552_1708766002669183_5845203134701968473_n

(Tuổi trẻ Trịnh tộc về thắp hương tổ tiên tại Bình Đà, Thanh Oai, Hà Nội)

Trịnh Tùng sai em ruột là Trịnh Đỗ dụ Xuân đến Quán Bạc (Hoàng Mai, Hà Nội) và bắt giết. Vài ngày sau Trịnh Tùng mất, Trịnh Tráng lên ngôi, tức là Thanh Đô Vương.

Phù Lê diệt Mạc

Dư đảng của họ Mạc do Kính Khoan đang chiếm cứ đất Cao Bằng nghe tin Trịnh Tùng chết, các con đánh nhau giành ngôi chúa, liền từ Cao Bằng kéo xuống Gia Lâm, người theo đông đến hàng vạn. Trịnh Tráng phải rước vua Lê chạy vào Thanh Hóa.

Tháng 8 âm lịch nǎm 1623 Trịnh Tráng đem quân ra phá tan quân của Kính Khoan ở Gia Lâm. Kính Khoan một mình chạy thoát. Kinh thành lại được yên. Tráng lại rước vua Lê trở lại kinh đô. Mùa đông nǎm đó 1623 vua Lê phong Trịnh Tráng làm Nguyên Súy Thống Quốc Chính Thanh Đô Vương.

Khi lên nắm quyền Trịnh Tráng đã cao tuổi (47 tuổi), từng trải việc quân việc đời nên trong chính sách cai trị, ông khéo léo và nhiều mưu mẹo hơn các chúa trước. Để thắt chặt thêm quan hệ giữa nhà chúa với vua Lê; Trịnh Tráng đem con gái của mình là Trịnh Thị Ngọc Trúc (trước đã lấy chồng, có bốn con với người chú họ của vua Lê là Lê Trụ nhưng sau đó Trụ bị tội chết), gả cho vua Lê, ép vua lập làm hoàng hậu. Vua Lê đành chịu chấp nhận việc đó.

Những năm sau, Trịnh Tráng nhiều lần điều quân lên Cao Bằng đánh dẹp họ Mạc nhưng chưa dứt được việc cát cứ này do sự can thiệp của nhà Minh.

Về ngoại giao, do sự vận động của Trịnh Tráng lúc nhà Minh đã suy yếu trước sự xâm lược của Mãn Thanh, vua Minh từ chỗ chỉ phong tước An Nam Đô Thống Sứ cho các vua Lê Trung Hưng, đến đây đã chịu phong cho Lê Thần Tông (đã truyền ngôi cho con lên làm Thái Thượng Hoàng) làm An Nam Quốc Vương và mùa đông nǎm 1651 lại phong Trịnh Tráng làm Phó Vương.

12993470_2037198296505658_4487897518517300720_n 12991053_2037197986505689_2620172308903973378_n  12963950_845730675532129_7853873187620682220_n 12961472_2037198343172320_1098836638547198876_n

Thời Trịnh Tráng, xung đột Trịnh-Nguyễn chính thức bùng phát. Do họ Nguyễn bỏ không nộp thuế cho vua Lê, năm 1627, Trịnh Tráng phát 20 vạn đại quân đánh miền nam. Quân Trịnh chủ động tấn công nhưng không chọc thủng được tuyến phòng thủ của quân Nguyễn. Phía Nguyễn có lợi thế là đại bác kiểu Bồ Đào Nha nên làm quân Trịnh sợ chạy dạt. Trong lúc hai bên tiếp tục giằng co thì Nguyễn Hữu Dật phao tin ở miền bắc, Trịnh Gia và Trịnh Nhạc âm mưu làm phản. Trịnh Tráng nghi ngờ vội thu quân về bắc.

Năm 1633, con của Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan là Ánh bất mãn không được làm thế tử, bèn viết thư hẹn làm nội ứng cho Trịnh Tráng. Trịnh Tráng khởi binh nam tiến lần thứ hai, đóng ở cửa Nhật Lệ. Chúa Nguyễn cử Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến làm tướng ra đánh. Trịnh Tráng đang đợi suốt hơn 10 hôm không thấy hiệu làm nội ứng của Ánh thì bị quân Nguyễn đánh úp, quân Trịnh hoảng loạn tan vỡ bỏ chạy. Trịnh Tráng rút về bắc, để lại con rể là Nguyễn Khắc Liệt trấn thủ châu Bắc Bố Chính.

Năm 1637, Phúc Lan sai Nguyễn Đình Hùng mang quân đánh úp chiếm Nam Bố Chính, giết tướng trấn thủ là Nguyễn Tịch. Năm 1640, Nguyễn Khắc Liệt mang quân đánh phá Nam Bố Chính rồi rút về. Chúa Nguyễn theo kế của Nguyễn Hữu Dật, viết thư cho Trịnh Tráng nói Liệt mưu thông đồng với chúa Nguyễn nên mặt ngoài gây chiến mà bên trong muốn hàng. Mặt khác, Nguyễn Phúc Lan thúc quân đánh Khắc Liệt. Khắc Liệt thua chạy, viết thư cầu cứu. Tin lời bên Nguyễn, Trịnh Tráng điều Trịnh Kiều mang quân vào bắt Liệt về xử tử. Quân Nguyễn nhân thời cơ đánh chiếm Bắc Bố Chính.

Về sự việc này, theo sách Đại Nam thực lục của nhà Nguyễn, Khắc Liệt đã thông đồng với bên Nguyễn từ năm 1634, nhưng vài năm sau vẫn nấn ná chưa về hàng, lại có ý “làm cao” nên chủ động đánh vào đất Nguyễn để uy hiếp. Chúa Nguyễn sợ Liệt thay đổi ý định nên viết thư cho chúa Trịnh báo việc này.

18520012_1847668258891330_1640375892017084491_n

Năm 1643, Trịnh Tráng điều quân vào nam chiếm lại Bắc Bố Chính, giết chết tướng Nguyễn là Bùi Công Thắng.

Năm 1648, Trịnh Tráng khởi binh nam tiến lần thứ tư, dẫn bộ binh đánh Nam Bố Chính, còn thuỷ quân đánh cửa Nhật Lệ. Quân Nguyễn cố thủ ở luỹ Trường Dục, quân Trịnh đánh không hạ được. Tướng Nguyễn là Hữu Tiến mang quân đánh úp quân Trịnh lúc nửa đêm. Quân Trịnh thua. Trịnh Tráng lui binh, sai Lê Văn Hiểu giữ Hà Trung, Lê Hữu Đức đóng ở Hoành Sơn, Phạm Tất Toàn giữ Bắc Bố Chính.

Chọn người kế vị

Nǎm 1645, Trịnh Tráng tuổi đã già, xin vua Lê phong cho con thứ hai là Tây Quận Công Trịnh Tạc làm Khâm Sai Tiết Chế Các Xứ Thủy Bộ Chủ Dinh Chương Quốc Quyền Binh, Tả tướng Thái úy Tây Quốc Công. Trịnh Tạc được chọn thay quyền cha giữ ngôi chúa. Sau quyết định này vài hôm, Trịnh Tráng bị cảm mạo, các con là Trịnh Sầm, Trịnh Lịch vì không được cha truyền ngôi bèn nổi loạn. Sau cả hai người con này đều bị bắt chém.

Năm 1653, Trịnh Tráng phong cho Trịnh Tạc làm Tây Định vương nắm quyền điều hành trong triều. Hai năm sau, chúa Nguyễn sai Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật mang quân vượt sông Gianh đánh Bắc Bố Chính. Quân Trịnh liên tiếp bại trận, bị mất 7 huyện Nam Hà (nam sông Cả) bấy giờ thuộc Nghệ An.

Trong lúc chiến sự ngoài mặt trận đang gay go thì tháng 4 năm 1657, Trịnh Tráng qua đời, hưởng thọ 81 tuổi, được tôn là Văn Tổ Nghị Vương. Trịnh Tráng ở ngôi vương 35 năm (1623-1657).

Con ông là Tây Định Vương Trịnh Tạc lên thay. Trịnh Tạc đã cùng với con trai là Trịnh Căn đánh bại được quân Nguyễn, chiếm lại được đất bắc sông Gianh năm 1660.

12938371_1708765832669200_8025879642973532360_n 12931171_1708762646002852_4275434513263741781_n     12994425_845676918870838_7962412398168775670_n 12998689_1708765936002523_1492856941161882400_n 13000110_1708766066002510_1654748316197738449_n 13001160_1708762302669553_5786367571673994383_n

Gia đình

Vợ:

Chính phi Trần Thị Ngọc Đài, tên thụy là Từ Huyên, người làng Đồng Đợi ( huyện Thiên Bản ), con gái ông Khải quận công. Sinh ra Hoằng tổ Dương vương Trịnh Tạc. Mất ngày 14 tháng giêng. Bấy giờ xứ nhà Thanh là Lý Dương cùng lũ Lý Đường Rạng, Triệu Quang Húc, Ngụy Tương Hiền, đem nghi tiết lại tế điếu lên lăng ở làng Phúc Sơn ( huyện Thụy Nguyên ).

Chính phi Nguyễn Phúc Ngọc Tú, tên thụy Từ Thuận, người làng Gia Miêu ngoại trang ( huyện Tống Sơn ), cháu Nguyễn Kim, con gái Đoan quốc công Nguyễn Hoàng. Khi Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa, bà còn bé, không theo đi được. Sau đó Nguyễn Hoàng gả bà cho Trịnh Tráng. Trịnh Tráng lấy làm Chính phi Tây cung. Sinh ra ông Sùng nghĩa vương. Mất ngày 23 tháng 3. Tôn lăng ở xã Bồi Dương ( huyện Tống Sơn ).

13062463_2047096475515840_3600040971132788298_n 13062012_2047096675515820_3708192640917850143_n 13055431_2047098208849000_6690288866993769586_n  13043601_2047098072182347_7246877641279207789_n  13082757_2047099512182203_20572267288029912_n   13095908_2047098958848925_7178824417601629643_n 13094219_2047098142182340_3555817202324259841_n 13096022_2047099665515521_4947017482855034721_n  13096355_2047096575515830_3909997279672028940_n 13103314_2047097312182423_3804507745885505786_n

Hiền phi Nguyễn Phúc Ngọc Súy, tên thụy là Từ Hiền, người làng Gia Miêu ngoại trang ( huyện Tống Sơn ), cháu đức Đoan quốc công Nguyễn Hoàng, con gái ông Lý Nhân công Nguyễn Hắc, Chính phi ở Đông Cung, mất 22 tháng 9 tôn lăng ở xã Bà Đông ( huyện Tống Sơn ).

13118915_2047096415515846_1021855164375656933_n 13124760_2047098758848945_5464772561102018397_n 13133395_2047097095515778_3132553031478094429_n 13124865_2047096195515868_2833878733829393065_n

Con:

Hoằng tổ Dương vương Trịnh Tạc

Sùng Nghĩa vương Trịnh Kiều ( ông là con trưởng, vâng mệnh tiết chế, mở phủ Sùng quốc mất sớm ).

Dực vận Tân trị Công thần Thân nghĩa công Trịnh Lưu.

Dực Vận Tân trị Công thần Thuần vĩ công Trịnh Trương.

Dực Vận Tân trị Công thần Bỉnh trung công Trịnh Quế.

Dực Vận Tân trị Công thần Quốc lão Tô quận công Trịnh Hàm.

Quan Thái tể Bảng quận công Trịnh Biện.

Quan Thái phó Khuê quận công Trịnh Lực

Quan Thái tể Hoàng quận công Trịnh Lộc.

Quan Thái phó Địch quận công Trịnh Tiến.

Quan Dực vận tân trị công thần hiệu quận công Trịnh Tấu.

Quan Dực vận tân trị công thần An quận công Trịnh Thiện

Quan Dực vận tân trị công thần Mỹ quận công Trịnh Hoàn.

Quan Dực vận tân trị công thần Cảo quận công Trịnh Lệ.

Quan Thái úy Ninh quốc công Trịnh Toàn. Ông là con út cúa Trịnh Tráng, thống lĩnh đi đánh Nam triều, mở dinh gọi là Tả Dực nội quân. Trấn thủ tỉnh Nghệ An, mở phủ gọi là Dương uy phủ, vâng mệnh Tiết chế. Ở chỗ quân ngũ lâu ngày nên được lòng tướng sĩ. Gặp lúc đức Văn tổ nghi vương Trịnh Tráng mất, Trịnh Tạc lên nối ngôi, thủ hạ khuyên ông mưu làm phản. Ông không nghe, chúng mới phao ngôn là ông có trí làm phản và làm chứng buộc thành tội trạng. Trịnh Tạc nghĩ ông là người trí nhân không lỡ xử tử, đặc ân cho khóa bạc, giam trong ngục. Năm 1637 ba lần ông tâu xin cho chết. Trịnh Tạc sai ông Hán quận công đưa rượu cho uống và ban cho quan tài cùng tiền cổ 300 quan, sai quan dụ tế cho đưa linh cữu về chôn ở ngoại quán thuộc xã Phú Vinh ( huyện Hoằng Hóa ). Đến năm 1655, phụng chuẩn định sự lệ tôn thất nhờ ông là người đánh giặc có công lao đặc ân tha cho và con cháu cũng chuẩn được ăn lương theo như lệ năm đời, nhưng không được bổ dụng. Năm 1660 trong họ có người kêu oan mới chuẩn tha cho ông được khai phục chức cũ

Share.

About Author

Leave A Reply