THIẾT CHẾ “VUA LÊ – CHÚA TRỊNH” Ở THĂNG LONG: NHÌN TỪ NHỮNG NGƯỜI PHƯƠNG TÂY ĐƯƠNG THỜI – PGS.TS. NGUYỄN THỪA HỶ

0

THIẾT CHẾ “VUA LÊ – CHÚA TRỊNH” Ở THĂNG LONG:

NHÌN TỪ NHỮNG NGƯỜI PHƯƠNG TÂY ĐƯƠNG THỜI

PGS.TS. Nguyễn Thừa Hỷ

Bài viết này dành riêng để giới thiệu những điều mưu tả, tường thuật, nhận xét và đánh giá thiết chế chính trị độc đáo “Vua Lê – Chúa Trịnh” ở Thăng Long của những người phương Tây đương thời đã từng sống hoặc đến Kẻ Chợ thời Lê – Trịnh, qua những nguồn tư liệu gốc phương Tây thế kỷ XVII – XVIII.

A.de Rhodes là vị giáo sĩ người Pháp nổi tiếng của giáo đoàn Dòng Tên (compagnie de Jesus) ở Macao đã đến kinh thành Thăng Long thời Vua Lê Thần Tông – Chúa Trịnh Tráng. Ông là tác giả cuốn “Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài” (Histoire du royaume de Tunquin), trong đó có những nhận xét đầu tiên về thiết chế Vua Lê – Chúa Trịnh. S. Baron là con lai, có bố là người Hà Lan làm trưởng thương điếm Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC), mẹ là người Đàng Ngoài, sinh ra và lớn lên ở Kẻ Chợ, sau làm việc cho công ty Đông Ấn Anh (EIC), là tác giả cuốn chuyên khảo “Miêu tả vương quốc Đàng Ngoài” (Description of the kingdom of Tonqueen) viết năm 1682. W. Dampier là một du khách người Anh đã đến Kẻ Chợ năm 1688, tác giả cuốn du ký “Hành trình và khám phá” (Voyages and Discoveries). Giáo sĩ người Pháp Richard viết cuốn “Lịch sử tự nhiên, dân sự và chính trị xứ Đàng Ngoài” (Histoire naturelle, civile et politique du Tonquin) xuất bản năm 1787, dựa trên tư liệu thực địa của giáo sĩ Thừa sai Saint – Phalles, người đã từng sống trong suốt những năm 30 của thế kỷ XVIII ở Kẻ Chợ. Giám mục Ceream của Hội truyền giáo ngoại quốc Paris MEP từ Macao đến Kẻ Chợ năm 1784, từng chứng kiến cảnh Cung Vua – Phủ Chúa bị náo loạn bởi nạn kiêu binh.

Do đó, giá trị độc đáo của nguồn tư liệu này trước hết ở tính đích thực của những tài liệu gốc qua những điều ghi chép tại chỗ, mắt thấy tai nghe của những chứng nhân đương đại. Mặt khác, đó là những cái nhìn từ bên ngoài có đối chiếu so sánh, về một mặt nào đó thường khách quan trung thực hơn, phát hiện được những điều mà người trong nước có thể dễ bỏ qua hoặc không chú ý tới.

tai-xuong-3

Điều nhận xét đầu tiên rút ra từ nguồn tư liệu này là những nét tương đồng và sự tham khảo lẫn nhau giữa hai mô hình Nhật Bản Thiên Hoàng – Tướng quân thời Tokugawa và mô hình Đại Việt Vua Lê – Chúa Trịnh ở Thăng Long trong giai đoạn XVII – XVIII.

A.de Rhodes mới chỉ dừng lại ở những gợi ý thoáng qua: “Những điều giữa Vua và Chúa ở Đàng Ngoài được người ta kể là có sự liên quan đến các Dairy của Nhật Bản”[1]. Sau một thế kỷ, Richard nói đến kỹ hơn:

“Quyền lực ở Nhật Bản cũng được phân chia như ở Đàng Ngoài, giữa hai vị chủ soái: Dairo, hay Thiên Hoàng và vị quân vương thế tục (tức Tướng quân). Ông này có tất cả mọi quyền hành được chia sẻ, cũng giống như vị Chúa ở Đàng Ngoài… Hình như hình thức chính quyền này của người Đàng Ngoài có thể lấy mô hình từ Nhật Bản…”[2].

Điều này hoàn toàn có khả năng xảy ra khi chúng ta biết rằng trong hai thế kỷ XVII và XVIII, đã có nhiều mối giao lưu kinh tế – văn hóa Việt – Nhật thông qua các thương nhân, người môi giới và phiên dịch người Nhật đến và lưu lại sinh sống ở Đàng Ngoài, cũng như những văn bản, thư từ trao đổi giữa các chúa Trịnh ở Thăng Long với chính quyền Mạc phủ Tokugawa ở Yedo.

Thực ra, bên cạnh những nét tương đồng, người ta cũng có thể dễ dàng nhận ra sự khác biệt giữa hai thiết chế của hai quốc gia. Ở Nhật Bản, chính quyền của Thiên Hoàng ở cố đô Kyoto, trong khi chính quyền của Tướng quân dòng họ Tokugawa lại ở kinh đô mới Yedo (tức Tokyo), hai thành phố cách xa nhau. Vì vậy, hai chính quyền ít phụ thuộc vào nhau, có điều kiện điều hành độc lập. Trái lại, ở Đại Việt, Cung Vua và Phủ Chúa tuy ở hai địa điểm khác nhau nhưng lại rất gần nhau, cùng ở kinh đô Thăng Long. Nhiều chức quan chủ chốt thường được kiêm nhiệm cả bên Triều đình lẫn Vương phủ. Quan hệ và sự phối hợp giữa hai chính quyền cũng vì thế mà gắn bó chặt chẽ với nhau nhiều hơn so với Nhật Bản.

Các tư liệu đều thống nhất với nhau khi nhận định rằng, vua Lê chỉ là vị hoàng đế trên danh nghĩa, biểu tượng của Quốc gia. Còn các chúa Trịnh mới là những vị quân vương nắm thực quyền và điều hành chính sự đất nước.

Trong cuốn chuyên khảo của mình, A.de Rhodes nói về một vị chúa đầu tiên của thời khởi đầu (có lẽ là Trịnh Tùng): ‘Vì chúa tỏ ra quan tâm đến lợi ích của công chúng, nên ông được đặc biệt quý mến, đối với dân chúng mà ông hy sinh phục vụ, cũng như nhà vua đã tín nhiệm giao cho ông chỉ hủy chính quyền, không những trong quân đội mà còn đối với tất cả công việc của vương quốc… Mọi nhiệm vụ đều đã được trao cho cá nhân vị Thống lĩnh quân đội, tất cả các công việc của quốc gia như việc binh đao, trị an đều do ông sắp đặt, có quyền thế tập truyền ngôi vị cho con trai, được nhà vua ưng thuận. Dưới uy lực của lệ luật và vũ khí, vị quân vương được gọi là Vua chỉ còn lại chút ít đặc quyền danh dự, còn tất cả mọi quyền hành đều gắn liền với lưỡi kiếm của vị Thống lĩnh quân đội quốc gia”[3].

tuong2

S.Baron cho rằng sở dĩ Chúa vẫn duy trì ngôi báu của vua Lê vì muốn dùng danh nghĩa chính thống này để quy tụ quần chúng, cố kết lòng dân, mặt khác có thể khôn khéo tránh né được khả năng can thiệp của nước làng giềng Trung Quốc. “Vì vậy, ông ta cho rằng phương cách an toàn nhất là đưa một ông hoàng nhà Lê lên ngắm danh nghĩa ngôi Vua và giành cho mình vương quyền. Trên thực tế, mọi quyền hành đều thuộc về Chúa. Ông ta có thể tùy ý tuyên bố chiến tranh hoặc hòa bình, làm ra hoặc hủy đi các luật lệ, ấn định thuế má. Mọi người nước ngoài – trừ các sứ thần Trung Hoa – đều đến thỉnh cầu ông. Nói tóm lại, uy lực của ông không chỉ là vương quyền, mà là tuyệt đối và vô hạn. Do vậy, người châu Âu đã gọi ông là Vua, còn vị vua thực thì gọi theo danh nghĩa là Hoàng Đế. Dân chúng Đàng Ngoài thường lưu truyền câu nói “Một nghìn vị Vua băng hà cũng không thể làm cho đất nước lâm nguy, nhưng một vị chúa mất sẽ gây nên chấn động lớn lao, lòng dân hoang mang, lo sợ cho đất nước, triều đình đảo loạn..”[4].

  1. Dampier trong cuốn du ký của mình đã nhận xét về thiết chế chính trị của Đàng Ngoài: “Đây là một chế độ quân chủ tuyệt đối, nhưng là loại độc đáo, vì nó có hai nhà vua không cùng dòng dõi huyết thống, một gọi là Boua (Vua), người kia gọi là Choua (chúa). Vị Chúa này tranh thủ được cảm tình của quân sĩ, đã nắm giữ toàn bộ nguồn lợi của vương triều trong tay mình, chỉ để lại danh hiệu Vua cho vị kia, có lẽ bởi vì dân chúng vẫn còn quá tôn kính dòng họ hoàng gia. Chúa cũng nắm mọi quyền hành khác, truyền ngôi vị cho con cháu. Nhà vua của vương triều cũ chỉ còn là cái bóng quyền lực của một thời trước kia khi họ còn là những chủ soái”[5]

Richard phân tích: “Ở Đàng Ngoài, chỉ có một nhà vua, được gọi là Dova (Boua = Vua). Ông được mang danh hiệu này cũng như mọi đồ nghi trượng để phân biệt. Các luật lệ được ban bố đều mang niên hiệu tên ông, ông được cho là có quyền ra mệnh lệnh cho tất cả mọi người. Nhưng trên thực tế ông không tham gia vào chính sự. Một tập quán đã được thiết lập là vị chúa họ Trịnh, vị Thống soái quân đội quốc gia, thường khá tâm đầu ý hợp với nhà vua mà ông ta đã đưa lên ngai vàng. Còn ông ta chỉ coi mình là thần dân số một và là vị sủng thần được nhà vua tin cậy. Nhưng dưới tấm màn che của sự cung kính tận tụy đó, Chúa nắm giữ về mình mọi đặc quyền và uy lực vương giả do chính nhà vua ban cấp, kể cả quyền kế vị, vẫn còn tồn tại đến ngày nay (giữa thế kỷ XVIII)…

… Mọi đặc quyền vương giả đều được chia sẻ cho Chúa. Chính Chúa đã tuyên bố chiến tranh hoặc hòa bình, đặt ra hoặc hủy bỏ luật lệ, khoan hồng các tội phạm hoặc kết tội họ chết, tạo lập và sắp đặt các chức quan văn võ, thu cống thuế đem lại lợi tức cho Triều đình và sử dụng nó theo chú ý của mình”[6].

Cho đến cuối thế kỷ XVIII, giáo sĩ Céram vẫn đưa ra những nhận định tương tự như trên về thiết chế vua Lê – chúa Trịnh: “Trong cung điện, vị quân vương trên danh nghĩa được gọi là Vua. Người nghiếp chính suốt đời được gọi là Chúa; chính Chúa mới là nhà vua đích thực, bởi vì dù không mang những dấu hiệu vương giả bề ngoài, ông đã có mọi uy lực và quyền hành”[7].

14725727_907757402689958_6136449250265503572_n

Ở đây người nắm giữ thực quyền hoàn toàn không đồng nghĩa với kẻ tiếm quyền. Sự nghiệp và vai trò chức phận của các chúa Trịnh thuở Trung hưng là hợp lý và hợp pháp, thuận lòng người, danh chính ngôn thuận, được các triều thần và đông đảo dân chúng ủng hộ.

Richard bình luận: “Chúa Trịnh chỉ huy quân đội tốt và thành công để mọi người không ai ghen tị gì về địa vị, danh vọng của ông. Dưới con mắt của dân chúng, ông chỉ là một chiến binh mà nhà vua ban thưởng công lao cho ông bằng chức tước được đứng đầu vương quốc. Ông biết bảo đảm những của cải dựa trên những cơ sở vững chắc nhất, không hề mang tính chất xấu xa của kẻ tiếm ngôi. Ông được giới quyền quý và dân chúng tin cậy. Vào lúc ông khởi dựng sự nghiệp, đã không hề có sự đối nghịch nào, và hình thức chính quyền đó vẫn còn duy trì tồn tại trong gần ba thế kỷ qua”[8]

Trên thực tế, lịch sử đã ghi nhận trong giai đoạn sau, một số chúa Trịnh đã hiếp đáp vua Lê (như trường hợp chúa Trịnh Giang, Trịnh Sâm). Tuy nhiên, đó là cá biệt chứ không phải lỗi bẩm sinh của thiết chế.

Nhìn chung, nhất là trong giai đoạn đầu, các chúa Trịnh đã ý thức được những vấn đề tế nhị trong chức năng, quyền hạn của mình, điển hình là trường hợp chúa Trịnh Cương từ chối việc đứng làm chủ tế trong nghi lễ Nam Giao. Về việc này, tác giả phương Tây viết: “Những dư ảnh của quyền lực cũ của nhà vua vẫn luôn luôn tỏa bóng rợp lên ngôi vị Thống lĩnh quân đội. Một đôi lần ông ta cũng định thử đứng ra làm lễ tế Trời, nhưng các quan đi tháp tùng ông, ngay cả các binh lính dưới quyền đều không muốn mặc lễ phục trong những dịp như thế. Thấy rằng các tướng sĩ sẵn sàng nổi lên chống lại mình, ông bèn quyết định bắt buộc mọi người phải tổ chức lại buổi lễ, do đích thân nhà vua đứng làm chủ tế, trước sự hân hoan lớn lao của toàn dân trong nước”.

Trong thiết chế vua Lê – chúa Trịnh, qua những lệnh chỉ, văn bản hành chính, pháp quy và cả những thông lệ truyền thống bất thành văn, một sự phân công, phân nhiệm đã được xác định rõ ràng. Nhà vua đặc quyền phụ trách những lĩnh vực mang tính chất danh dự, tinh thần như nghi lễ, ngoại giao (chỉ với Trung Quốc) và giáo dục. Trong khi đó, nhà chúa nắm giữ những lĩnh vực chủ chốt liên quan đến quốc kế dân sinh như quân sự, công tác tổ chức bá quan văn võ, các công việc kinh tế – tài chính.

Nhà vua được coi là Con trời (thiên tử), nên là người duy nhất được quyền cử hành lễ tế trời vào đầu năm mới. Lễ này được gọi là lễ tế Nam giao, kèm theo là lễ Tịch điền.

S.Baron đã miêu tả nghi lễ đó như sau: “Vào ngày mồng ba tết đầu năm, nhà vua cử hành lễ xuống đồng mở đất. Nhà vua cùng đoàn tùy tùng đông đảo rời khỏi cung điện, đi đến một cánh đồng rộng cách kinh thành khoảng chừng một dặm cổ. Sau khi khấn bái Trời một cách kính cẩn, nhà vua cầm một chiếc cày trang trí nhiều màu sắc và chạm trổ cầu kỳ, bước xuống cày trong mấy phút và mở một luống cày trong thửa ruộng để dạy cho dân chúng nên cần cù, chăm chỉ, chăm sóc không ngưng nghỉ ruộng đồng”[9].

Richard cũng viết tương tự: “Trong buổi lễ cầu phúc cho đất đai, sau khi giữ chay tịnh nhịn ăn và tiến hành cầu nguyện, nhà vua bước xuống ruộng cày để tôn vinh công việc canh nông. Người ta gọi đó là lễ tế Trời hay lễ Nam Giao (Canja)”.

Trong công tác ngoại giao, nếu chúa Trịnh là người tiếp kiến mọi phái bộ người người phương Tây, Nhật Bản, thì chỉ có nhà vua mới tiếp kiến các sứ thần Trung Quốc. Dampier nhận xét: “Nhà vua được toàn thể dân chúng Đàng Ngoài hết sức tôn kính… Khi bất cứ đoàn sứ giả nào do hoàng đế Trung Quốc cử đến, họ chỉ dâng thư lên nhà vua và được nhà vua hội kiến”. Richard bổ sung: “Đích thân nhà vua Đàng Ngoài tiếp nhận chiếc ấn tín của Hoàng đế Trung Quốc như một dấu hiệu khẳng định sự lên ngôi báu của mình”.

Nhà vua được coi là chủ soái của giới nho sĩ và nền giáo dục khoa cử nho học. Đích thân nhà vua ra đầu đề văn sách cho kỳ thi Đình, vinh danh ban thưởng các vị tân khoa.

S.Baron thuật lại chi tiết: “Các người đỗ cử nhân được nhà vua tiếp kiến và ban thưởng cho mỗi người trong số họ một nghìn đồng tiền nhỏ, giá trị bằng khoảng 1 đôla, và một tấm áo choàng vải màu đen giá trị khoảng 3 đô la. Bản thân nhà vua cùng các hoàng thân, các tiến sĩ xuất sắc nhất trong vương quốc và các đại pháp quan đã chấm những thí sinh dự kỳ thi tiến sĩ. Vua và Chúa đến dự lễ vinh danh trọng thể các tiến sĩ tân khoa trong hai ngày đầu và ban cho mỗi người một nén bạc trị giá khoảng 14 đô la và một tấm lụa đẹp”.

Về phần mình, hầu hết các chúa Trịnh trong giai đoạn đầu đều lập nghiệp từ võ công, chiến tích, xông pha trận mạc qua các cuộc chiến tranh Lê – Mạc, Trịnh – Nguyễn. Một số anh em chúa Trịnh cũng là những danh tướng, điển hình là Tiết chế Ninh quốc công Trịnh Toàn, em thứ chúa Trịnh Tạc, mà theo các tác giả phương Tây đã từng được dân chúng tôn xưng là “Tia chớp xứ Đàng Ngoài” (Lightning of Tonqueen). Vị tướng này sau đã bị hãm hại. Các tư liệu phương Tây cũng đều ghi rằng, tất cả các chúa Trịnh đều là các Thống lĩnh quân đội quốc gia, trực tiếp bổ nhiệm và chỉ huy các võ quan cao cấp.

bau-vat-hoang-gia-viet-nam-o-paris

(QUÂN ĐỘI NHÀ TRỊNH)

Chức năng kiểm soát và điều hành kinh tế cũng là một nhiệm vụ chính bên phủ Chúa. Theo S. Baron, “các nguồn tài chính dồi dào được thu bằng tiền bạc vào quỹ của nhà Chúa bao gồm tiền bán quan mua tước, tiền chuộc tội nộp phạt của quan liêu, 1/10 giá trị hàng hóa buôn bán, phần lớn tài sản các quan chức quá cố, đặc biệt Chúa là người được thừa hưởng toàn bộ số gia sản của các hoạn quan (vì những người này không có con). Thêm vào là các khoản thu bất thường khác từ những người nước ngoài, các tàu buôn của thương nhân ngoại quốc, thuế thân, thuế hàng hóa nội địa…”

Công tác tổ chức nhân sự cũng là đặc quyền của phủ Chúa. Chúa là người bổ nhiệm, điều động, cất nhắc hoặc bãi, giáng chức các quan. Đặc biệt, Chúa cũng còn là người chỉ định cuối cùng vị hoàng tử nào sẽ là người kế vị vua cha, nhằm tạo nên một sự đồng thuận cao và một sự phối hợp nhịp nhàng giữa cung vua và phủ Chúa.

Về việc này, tác giả Richard viết: “Không hề có một mệnh lệnh nào quy định việc nối ngôi báu. Nhà vua, hay Hoàng đế thường không biết được người con trai nào sẽ kế vị mình, mặc dù ông ta trước đó đã chỉ định. Thậm chí ngay khi ông ta chỉ có một người con trai duy nhất, ông cũng không thể đảm bảo rằng người đó nhất định sẽ được nối ngôi với vương miện của Nhà Vua, bởi vì chỉ có vị Chúa chỉ huy quân đội mới là người sắp xếp công việc đó. Trong khi bắt buộc phải đưa một hoàng tử mang dòng máu hoàng gia lên ngai vàng, chúa vẫn tạo thuận lợi cho người mà mình có thể tin cậy nhất. Ở Đàng Ngoài cũng như ở Trung Quốc, chưa bao giờ người con trai trưởng của nhà vua được độc quyền mặc nhiên bước lên ngai vàng. Người ta thường có thói quen chọn lựa người xứng đáng nhất trong số những hoàng tử mang huyết thống nhà vua. Hơn nữa, việc chọn lựa người chiếm hữu ngôi vua còn phải được Tòa án hoàng gia xác nhận. Nếu không có sự đề phòng cận thận này, vị hoàng tử được chọn sẽ không hề được bảo đảm về vị thế của mình, nhất là đối với một quốc gia bề ngoài có vẻ gắn bó chặt ché với những tập quán của họ, nhưng đến một lúc nào đó, họ sẽ nghĩ đến việc âm thầm phá bỏ nó khi có thời cơ thuận lợi”.

Nguồn tư liệu phương Tây đương thời cũng cho ta biết một số nét về đời sống của vua Lê, chúa Trịnh. Ở kinh đô Thăng Long, hoàng thành vua Lê và phủ chúa Trịnh tuy không cách xa nhau, nhưng hai cảnh quan với hai đời sống cũng khá khác biệt, phản ánh những vị thế và chức năng khác nhau của hai chủ soái.

Những cung điện lộng lẫy của triều đình Lê xưa kia đến lúc bấy giờ đã bị sa sút khá nhiều, trở nên kính cổng cao tường trong khung cảnh tĩnh lặng. Dampier miêu tả: “Bức tường thành là đáng chú ý nhất, dài tới 3 dặm cổ (khoảng 15km), cao chừng 15 hoặc 16 bộ (4m50 – 4m80), bề dày cũng bằng chừng ấy. Hai mặt tường xây ốp gạch, có nhiều cửa ra vào nhưng cửa chính trông ra thành phố. Cửa này không bao giờ được mở, trừ khi nhà vua tức vị hoàng đế đi ra ngoài. Hai cửa nhánh ở hai bên nhỏ hơn, thường xuyên được mở cho những người có công việc đi qua lại, những người lạ thì không đuộc vào. Tuy nhiên, họ vẫn có thể trèo lên mặt tường thành và đi dạo quanh đó bằng cách bước lên những bậc thang ở cổng thành, và ở một vài chỗ mà tường thành đã bị sụt lở. Bên trong bức tường đó, có nhiều hồ cá rộng trên đó có những du thuyền của hoàng đế dạo chơi. Đó là nhà tù cho vị vua, hơn là cung điện”.

14877013_326284911062781_925105301_n

Richard viết về đời sống cung đình: “Nhà vua chỉ rời khỏi cung cấm hai, ba lần trong năm. Mỗi khi vua đi ra ngoài, dân chúng không một ai được phép nhìn mặt. Từ tối hôm trước, lệnh ban ra cho tất cả mọi người ở phố phường cũng như trong thôn xóm phải tránh xa con đường mà nhà vua sẽ đi. Phụ nữ phải ở trong nhà đóng chặt cửa. Nếu ai trái lệnh đi ra ngoài tức khắc sẽ bị xử tội chém đầu, dù rằng chỉ là do vô tình không biết lệnh đó. Như vậy, nhà vua đã trở nên vô hình đối với tất cả mọi người, chỉ trừ một số rất ít những quân cận vệ đi theo hầu…

… Nhà vua sống hoàn toàn cách biệt với dân chúng. Có thể nói rằng người ta đã ru ngủ ngài trong những thú vui hoan lạc và sự bạc nhược. Trên bàn ăn được bày biện đủ mọi món sơn hào hải vị từ khắp mọi miền đất nước, tất cả mọi thứ ngon lành hiếm quý đều được dâng tiến vua. Cung điện có đông đúc các cung tần mỹ nữ, được tuyển chọn ưu tiên từ các thiếu nữ theo tiêu chuẩn tài nghệ hơn là sắc đẹp, thường là những đào nương giỏi nghề ca múa, để giải trí mua vui cho nhà vua”.

Trong khi đó, S. Baron miêu tả Phủ chúa Trịnh: “Phủ chúa Trịnh hầu như ở giữa Trung tâm thành phố, rất rộng và có tường bao quanh, cả trong lẫn ngoài dựng nhiều những dãy nhà thấp dùng cho quân lính. Bên trong Phủ là những lầu gác hai tầng có nhiều khoảng trống lộ thiên. Các cửa đều đồ sộ, nguy nga tất cả đều bằng gỗ lim, cũng như ở hầu hết các nơi cung điện. Các tư thất và cung dành cho phụ nữ đều lộng lẫy xa hoa, chạm trổ sơn son thếp vàng. Trong sân đằng trước là các chuồng voi lớn và ngựa tốt; trong dân sau có nhiều vườn cảnh, lùm cây, lối đi, những chòi tháp nhỏ, ao thả cá và tất cả những gì có thể làm cho chúa vui chơi giải trí, mặc dù chỉ họa hoằn đôi khi Chúa mới quá bộ đến nơi đó…”[10]

Richard viết về một buổi họp chầu của chúa Trịnh: “chúa tập hợp các quan ngay từ sáng sớm, nghĩa là vào khoảng 6 giờ sáng theo cách tính của chúng ta…

… Buổi họp chầu của Chúa luôn luôn oai vệ rực rỡ. Tất cả đều diễn ra trong trật tự hoàn hảo nhất. Đội cận vệ rất đông đảo đứng gác ở ngoài cung điện. Rất nhiều những hoạn quan tản ra trong các cung phòng, nhận những tờ tấu biểu của các quan và chuyển đến họ những lệnh chỉ của chúa. Những đại thần thì được quỳ gối dâng tấu lên tận tay Chúa. Quang cảnh của buổi họp chầu của Chúa là bức tranh gây ấn tượng nhất của nền chuyên chế phương Đông. Người ta thấy tập hợp ở đây tất cả những triều thần có thế lực nhất trong vương quốc, tỏ ra hết sức cung kính quỵ lụy đặng mong Chúa để mắt tới mình…

… Buổi họp chầu kết thúc vào khoảng 8 giờ. Chỉ còn ở lại với Chúa viên chỉ huy đội cận vệ, những nội quan hầu cận mà phần lớn là các hoạn quan, chí ít là những người ra vào trong cung thất của các phi tần. Số này rất đông, có cả những người tuổi còn rất trẻ”.

Chung quanh Phủ chúa là những công trình du ngoạn và những cơ sở quân sự. “Đằng trước phủ Chúa, có một thao trường hay một bãi đất rộng vuôn vắn cho quân lính thao diễn. Bãi đất được chia làm hai khu, một bên dành cho các quan ngồi xem binh lính tập luyện, bên kia là dãy nhà kho đặt để những khẩu thần công và những loại trọng pháo khác… Trong số đó, có một khẩu đại bác bằng đồng lớn hơn nhiều so với những khâu còn lại, nặng tới khoảng tám, chín ngàn cân Anh (3,6 – 3,8 tấn)[11]. Đó chính là Diễn vũ trường gần sông Nhị (sông Hồng), nơi hàng năm vào dịp đầu xuân chúa Trịnh đã cho tổ chức Tế kỳ đảo – một nghi lê cầu phúc và tuyên thệ của các tướng sĩ, mà trong các tư liệu phương Tây gọi là Theckydaw.

“Chúa luôn có một đội quân thị vệ hùng mạnh. Chung quanh cung điện có nhiều chuồng ngựa, voi lớn. Những con ngựa cao chừng 13 đến 14 gang tay (1m3 – 1m4), được nuôi rất béo với số lượng chừng hai, ba trăm con. Voi thì nhốt trong những tàu tượng dài, mỗi con ở một ngăn riêng, có một quản tượng chuyên nuôi dạy chúng. Số voi của Chúa có chừng 150 – 200 con. Hàng ngày, chúng được dẫn xuống sông để uống nước và tắm rửa…

… Trên dòng sông là những loại thuyền chiến dài 50,60,70 bộ (15,18,30m), rộng chừng 10-12 bộ (3 – 3,6m), hai đầu nhô cao lên một khoảng cũng bằng ngần ấy, đặc biệt là phần đuôi thuyền. Nhưng phần giữa thân thì cao không quá 2,5 bộ (0,75m), là nơi để cho quân lính bước lên xuống”.

Một điều có vẻ nghịch lý là ở đây những võ tướng lại là những người sùng tín một tôn giáo từ bi (đạo Phật). Theo Richard, “nhà Chúa – người nắm mọi quyền hành của vương trượng – đã lấy làm vinh dự khi ủng hộ đạo Phật, còn nhà Vua thì là giáo chủ của những nho sĩ, sùng bái Trời hay Thượng đế. Vị chúa Trịnh cầm quyền 40 năm trước đây rất sùng Phật, đã thường xuyên lưu giữ lại trong cung phủ những toán sư sãi, để lập nên những đàn chay theo cách riêng của họ và những buổi tế lễ thờ cúng Phật”. Ở đây, thiết chế vua Lê – chúa Trịnh đã thể hiện một thế đối trọng về tôn giáo Nho – Phật.

Trong phạm vi toàn thế giới, hai thế kỷ XVII – XVIII là thời kỳ chuyển biến về những mô hình và thiết chế chính trị. Các cuộc cách mạng bùng nổ ở châu Âu, những thiết chế chính trị mới xuất hiện, điển hình là nền quân chủ lập hiến ở nước Anh với nguyên tắc “nhà vua trị vì nhưng không cai trị” (le roi refgne mais ne gouverne pas). Bên châu Á, xuất hiện thiết chế Thiên hoàng – Tướng quân ở Nhật Bản.

Tương tự như vậy, thiết chế “Vua Lê – Chúa Trịnh” ở Đại Việt Đàng Ngoài là một thể nghiệm lịch sử mới mẻ có khả năng tạo nên một chính quyền quân chủ thực chất và có hiệu quả. Tuy nhiên, sự đổi mới này chưa đồng bộ kèm theo một sự đổi mới mô hình, chưa có sự chuyển biến về chất của nền kinh tế xã hội và chưa thoát khỏi sự ràng buộc của hệ tư tưởng chật hẹp Nho giáo cũ. Kết quả là sau hai thế kỷ tồn tại, sự đổi mới đó đã không thành công, cuối cùng dẫn đến thất bại.

[1] A.de Rhodes. Histoire du royaume de Tunquin.Lyon, 1651, tr. 15

[2] Richard. Histoire naturelle, civile et politique du Tonquin. Paris, 1787, Tome 2, tr.11, 17-18,28.

[3] A.de Rhodes, tr.8

[4] S.Baron. Description of the Kingdom of Tonqueen. Trong: J. Pinkerton. Voyages and Travels. Vol.9, London, 1811, tr.682 – 283.

[5] W.Dampier. Voyages and Discoveries (1688). London, 1931, tr. 50 – 51.

[6] Richard. T2. Tr. 17-22,28

[7] Thư của giám mục Céram trong: Lettres edifiantes et curieuses, Paris 1843, tome 4, tr. 635.

[8] Richard, T2, tr.17.

[9] A.de Rhodes.Sd,tr13.

[10] S.Baron, tr.692.

[11] W.Dampier, tr.52.

Share.

About Author

Leave A Reply