THẾ TỔ MINH KHANG THÁI VƯƠNG TRỊNH KIỂM – MỘT LÒNG VÌ SỰ NGHIỆP LÊ TRUNG HƯNG

1

Minh khang Thái vương Trịnh Kiểm

Minh Khang Thái Vương Trịnh Kiểm
Minh Khang Thái vương Trịnh Kiểm (chữ Hán:鄭檢, 1503 – 1570) là người cùng với Nhạc Phụ là Hưng Quốc công Nguyễn Kim và con trai Triết vương Trịnh Tùng có công lớn trong sự nghiệp “Phù Lê diệt Mạc”, khôi phục lại ngôi Vua cho Nhà Lê sau khi bị quyền thần Mạc Đăng Dung cướp ngôi, ông cũng là người kiến tạo ra giai đoạn Lê Trung Hưng kéo dài gần 250 năm trong lịch sử Việt Nam, đây cũng là giai đoạn lịch sử lâu nhất của Việt Nam mà không bị Trung Quốc tấn công và bằng biện pháp Ngoại giao đòi được Mỏ đồng Tụ Long và vùng đất đã bị nhà Thanh (Trung Quốc) chiếm. Trịnh Kiểm được coi là người mở đầu Vương nghiệp cho Nhà Trịnh, gián tiếp xây dựng nên cơ chế chính quyền “lưỡng đầu chế” vua Lê – chúa Trịnh tại Bắc Hà (miền Bắc Việt Nam ngày nay), đây là cơ chế chính quyền đặc biệt, khá mới mẻ vào giai đoạn lịch sử lúc bấy giờ, nhưng đã được hiện nay áp dụng như hình thức “Quân chủ lập hiến” ở nhiều nước trên thế giới.
Đương thời khi cầm quyền ông không xưng là chúa nhưng được đời sau truy tôn là Thái Vương. Ông là người nắm quyền chỉ huy quân đội trong triều các vua Lê thời Nam Bắc triều từ năm 1545 tới khi mất (18 tháng 2 năm Mậu Ngọ, 1570).

Thân thế
Thái vương Trịnh Kiểm sinh ngày 24 tháng 8 năm Quý Hợi (1503 – niên hiệu Cảnh Thống thứ 6 đời vua Lê Hiến Tông). Ông có tên húy là Phiến, sau gọi là Kiểm, quê tại làng Sóc Sơn, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Ông Sinh ra tại Làng Hổ thôn, xã Vệ Quốc, Huyện Yên Định, Thanh Hóa, đây cũng là quê mẹ của ông. Thân phụ là ông Trịnh Lâu, phụ mẫu là bà Hoàng Thị Dốc.
Theo Đại Việt Lê triều đế vương Trung Hưng công nghiệp thực lục của Hồ Sĩ Dượng, tổ tiên của Thái vương Trịnh Kiểm quê ở làng Xáo Sơn (còn gọi là Sóc Sơn), huyện Vĩnh Ninh, trấn Thanh Hoa (đến đời Vua Lê Trang Tông đổi huyện Vĩnh Ninh thành Vĩnh Phúc, đời Tây Sơn thế kỷ 19 đổi là huyện Vĩnh Lộc). Cao Tổ là ông Trịnh Kỷ, tằng tổ là ông Trịnh Liễu, “Nhà nghèo, ham học, tích đức, làm việc nghĩa. Họ hàng khen hiếu, làng xóm khen đễ… sau rời đến làng Biện Thượng (nay là Bồng Thượng, xã Vĩnh Hùng), làm điều thiện không mỏi, nhân hậu có thừa, lấy vợ họ Hoàng ở Biện Thượng. Trịnh Lan sinh ra Trịnh Lâu cũng chăm làm việc phúc, lấy vợ ở xã Vệ Quốc, Hổ thôn huyện Yên Định, cách Biện Thượng bởi sông Mã, vợ người họ Hoàng sinh ra Trịnh Kiểm” . Thái vương Trịnh Kiểm mồ côi cha từ lúc 06 tuổi, ông theo mẹ về quê cha ở Sóc Sơn sống, nhà nghèo, mẹ con cày cuốc, rau cháo nuôi nhau.
Theo Giáo sư Trần Quốc Vượng trong cuốn “Văn hoá Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm”, Giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã dịch phần đầu tập Trịnh gia thế phả. Tuy vẫn nằm trong motif văn hoá dân gian cũng như motif về cách chép sử cũ nhưng những chuyện về Thái vương Trịnh Kiểm rất ly kỳ. Theo gia phả trên, việc Thái vương Trịnh Kiểm lập nhà chúa đã được tiên đoán từ 4 đời trước của Thái vương Trịnh Kiểm là Trịnh Liễu. Trịnh Liễu ở sách Sóc Sơn (hay cũng gọi là Sáo Sơn), huyện Vĩnh Phúc, trước năm 1533 là huyện Vĩnh Ninh, do kỵ huý với vua Lê Trang Tông (huý Ninh) nên đổi là Vĩnh Phúc, đến đời Tây Sơn đổi là Vĩnh Lộc cho đến ngày nay.
Trịnh Liễu lấy vợ họ Hoàng cũng ở sách Sóc Sơn. Gia tư Trịnh Liễu nghèo đói, làm ruộng và bán nước chè kiếm sống nhưng rất ham đọc sách. Một hôm, Trịnh Liễu đi cày ở xứ đồng trong núi, đến chỗ vực tôm, thấy một ông già hơn 90 tuổi, sắc mặt sáng tươi, thần thế thanh tú. Ông già hỏi Trịnh Liễu: “Ông ở đâu? Họ gì? Cày ruộng chăn trâu ở núi mà lại siêng học hành thế nhỉ!”. Trịnh Liễu đáp: “Tôi quán ở Sóc Sơn. Từ nhỏ mồ côi, nghèo đói, vốn thích sách vở”.

dang-huong

                                    (Tuổi trẻ Trịnh tộc bên lăng mộ Thủy tổ Nhà Trịnh cụ Trịnh Kỷ)
Hai người đàm đạo không hay mặt trời đã gác núi. Trịnh Liễu mời ông già về nhà nghỉ lại một đêm. Đến nhà, thấy mấy gian lợp lá và một cái chõng tre. Trịnh Liễu một mực mời lên giường ngồi, kính cẩn mời cơm nhạt. Ông già khen Trịnh Liễu có đức, nói: “Lão đây vốn sành phong thuỷ, thấy trong đất sách này, chỗ Nanh Lợn, có một huyệt có khí quý. Táng đó thì 4 đời sau phát vương”.
Trịnh Liễu theo lời, đem hài cốt cha mẹ nhờ ông già lập hướng mà táng. Táng xong ra về. Đêm ấy, trời đất chuyển động mây mưa, gió thổi đùng đùng. Ông già hỏi Trịnh Liễu: “Ông có dám đi thăm huyệt không?”. Trịnh Liễu đáp có, rồi cắp dao đi thẳng đến huyệt mộ mới táng ban ngày. Trịnh Liễu hết sức ngạc nhiên và sợ hãi khi thấy bốn bề đen tối, mưa gió ầm ầm nhưng trong mộ sáng như có ánh trăng. Xa trông thấy con rồng đen nằm ấp lên trên. Trịnh Liễu sợ chạy một mạch về. Ông già nói: “Rồng vàng là đế, rồng đen là vương. Nhà ông tích lại âm công. Trời giáng phúc cho đó”. Ngày hôm sau, Trịnh Liễu cùng người nhà ra thăm mộ vẫn còn thấy dấu rồng nằm, cây cỏ chung quanh gẫy rạp đến một mẫu.
Trịnh Liễu cảm kích, bán hết ruộng vườn được 73 quan cổ tiền biếu ông già. Ông già còn chỉ cho đất làm nhà tốt ở Biện Thượng, nói xong bèn lên đường. Trịnh Liễu cùng người nhà đưa chân ông già đến chỗ Cổ Dải, thuộc huyện Tống Sơn (huyện Hà Trung ngày nay) thì thình lình mưa gió ào tới, sương mù xuống ào ạt mờ mịt cả một vùng. Chỉ một lúc sau, trời quang mây tạnh, ông già biến mất theo đám sương khói. Gánh tiền vẫn còn nguyên vẹn. Lúc ấy, Trịnh Liễu mới biết ông già chính là thần tiên hiện ra, đặc biệt đến dâng phúc. Bởi thế, về sau, nơi này, Chúa Trịnh cho lập đền thờ, truy phong tôn hiệu là Tống Thiên Vương.
Trịnh Liễu cùng anh em lại gánh tiền đã biếu thần tiên về dựng nhà ở Biện Thượng (hay Bồng Thượng, nay thuộc xã Vĩnh Hùng, Vĩnh Lộc. Thanh Hoá). Sau đó, Trịnh Liễu đi thi đỗ tam trường (tương đương tú tài). Con trai Trịnh Liễu là Trịnh Lan cũng lấy vợ họ Hoàng, người xã Biện Thượng. Con thứ của Trịnh Lan là Trịnh Lân cũng lại lấy vợ họ Hoàng là bà Hoàng Thị Dốc ở thôn Hổ, xã Vệ Quốc, huyện Yên Định. Bà Hoàng Thị Dốc chính là người sinh hạ Thái tổ Minh Khang Thái vương Trịnh Kiểm nhằm ngày 24 tháng 8 năm Quý Hợi, tức năm 1503 – niên hiệu Cảnh Thống thứ 6 đời vua Lê Thánh Tông.
Như vậy, từ Trịnh Liễu đến Thái vương Trịnh Kiểm đúng 4 đời y như tiên đoán của vị thần tiên năm nào.
Từ nhỏ, Thái vương Trịnh Kiểm đã tỏ ra là 1 cậu bé lanh lợi, biết ứng xử, giỏi đối đáp và đặc biệt là rất can đảm. Cậu thường tụ tập những đứa trẻ chăn trâu chia phe đánh trận trong rừng. Phe của cậu luôn chiến thắng. Khi lớn lên khoảng 17 tuổi ông đi làm thuê chăn ngựa tại sách Thọ Liêu (thuộc huyện Thạch Thành, Thanh Hóa) cho ông Lê Văn Tư, làm quan với Nhà Mạc (lúc này Mạc Đăng Dung đã giết Vua Lê và xóa bỏ vương triều Nhà Lê để lập nên Nhà Mạc) được phong Ninh Bang Hầu, đóng quân ở Vĩnh Ninh. Thái vương Trịnh Kiểm có người anh họ là Trịnh Quang (Trịnh Quang là trưởng nam đức Nguyên công Trịnh Bách, bác ruột của Thái vương Trịnh Kiểm), đang đầu quân cho Hưng Quốc Công Nguyễn Kim tham gia cuộc khởi nghĩa “Phù Lê diệt Mạc”, chính người anh họ này đã thuyết phục Thái vương Trịnh Kiểm đi theo Hưng Quốc Công Nguyễn Kim vì nhà Mạc được coi là Ngụy Triều, theo Nguyễn Kim phò Lê là chính đạo, Thái vương Trịnh Kiểm nghe theo. Một hôm thừa cơ, Thái vương Trịnh Kiểm đem theo con ngựa tốt của Ninh Bang hầu luồn rừng trốn đến sách Cổ Lũng (huyện Cẩm Thủy ngày nay) theo về với Hưng Quốc Công Nguyễn Kim theo lời giới thiệu của anh họ Trịnh Quang . Việc trộm ngựa theo Hưng Quốc Công Nguyễn Kim chống Mạc của Thái vương Trịnh Kiểm khiến Ninh Bang hầu tức giận, buộc mẹ của ông là bà Hoàng Thị Dốc phải lánh về quê là làng Hổ, xã Vệ Quốc sinh sống.
Theo Trịnh gia Chính phả (trang 16), Thái vương Trịnh Kiểm rất có hiếu với mẹ, nên sau khi trốn theo Hưng Quốc công Nguyễn Kim, ông lo lắng cho sự an nguy của mẹ nên đã về thăm mẹ, có người tố giác với Ninh Bang hầu, tước Hầu sang Sáo – Sơn vây bắt, nhưng không bắt được Trịnh Kiểm (do có ông Sửu cùng làng che giấu). Lần khác ông về thăm mẹ tại làng Hổ, Ninh Bang hầu tiếp tục lùng bắt ông nhưng không được, bèn trói bà mẹ bỏ vào rọ đem dìm xuống sông làng Biện Thượng. Mặc dù đã bỏ đá vào rọ nhưng xác bà không chìm mà nổi lên trôi về xứ Quai Vạc. Có đàn Vẹt hàng trăm con bay trên mặt sông che chở cho thi hài bà, gặp người thuyền chài tên là Mai An Dũng làng Đông Biện vớt đem lên bờ, đang tìm ván cuốc toan chôn, ra đến nơi mối đã đùn lên thành mộ. Thái vương Trịnh Kiểm nghe tin mẹ mất khóc lóc vật vã. Đêm đến cùng ông Trịnh Quang, cha con Vũ Thời An, Trịnh Bá Di và một số người khác đi tìm xác Phụ mẫu, đến xứ Quai Vạc thấy mối đã đùn thành mả lớn, coi đó là do Trời rủ lòng thương, đã tang hộ cho Phụ mẫu nên cứ để vậy (Thiên tang) rồi quỳ lạy bái biệt. Chỗ mộ ấy đến nay xa bồi ra đến giữa sông, có nhiều cây cổ thụ. Sau này khi được phong chức Dực Quận công (năm 1540), ngài sai Trịnh Quang, Vũ Thời An cải tang hài cốt Phụ mẫu về xứ Đông Lãng thôn Sóc Sơn .
Theo Đại việt Sử ký toàn thư thì Thái vương Trịnh Kiểm có công lớn trong sự nghiệp Lê Trung Hưng, nên năm Ất Tỵ, niên hiệu Nguyên Hòa thứ 13 (1546) được Vua Lê phong Đô tướng tiết chế các xứ thủy bộ chư dinh, kiêm Tổng nội ngoại bình chương quân quốc trọng sự, Thái sư Lạng Quốc Công. Khi Thái vương mất (ngày 18 tháng 2 năm Canh Ngọ), Vua Lê Anh Tông tôn phong Thái vương: Thôi Trung Dực Vận Hiệp Mưu Đồng Đức Phụ Quốc Kiệt Tiết Đôn Hậu Minh Nghĩa Công Thần Đặc Tiến Khai Phủ Kim Tử Vinh Lộc Đại Phu kiêm Tổng Nội Ngoại Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự Thái Quốc Công. Tặng Minh Khang Nhân Trí Vương, Thụy Trung Huân, Miếu Hiệu Thế Tổ.
Theo Kim Giám thực lục – 1802, Đại Việt sử Ký toàn thư năm Chính Hòa 1697, ngày 22 tháng 3 năm Giáp Ngọ niên hiệu Quang Hưng thứ 16 (1594) triều đình Nhà Lê ban Kim sách 132 mỹ tự cho Thái vương Trịnh Kiểm gồm:
Minh Khang Nhân Trí
Võ chinh hung lược
Hiển đức phong công
Khải nghiệp hoành mô
Tế thế trạch dân
Kiến ưu khuông bích
Triệu tường dụ quốc
Quảng vạn hoằng mô
Dụ hậu diễn phúc
Tĩnh bích tá mạn
Thùy hưu đốc bật
Khai quốc cương nghị
Phụ quốc tán trị
Nghi uy riệu võ
Diên khánh vĩnh tự
Kinh văn tuy lộc
Cảnh quang phi hiếu
Dương võ phù tộ
Hưng nghiệp thùy thống
Hồng sư nguyên tự
Đốc dự riễu tự
Yến mưu hồng nghiệp
Khoát dại khoan dung
Lập cực vĩnh điển
Tuy phúc trí đức
Quảng huệ phù vận
Tư trị hồng ơn
Tích hậu vĩnh đức
Đại công thịnh nghiệp
Chế trị phục viễn
Lập kinh trần kỷ
Cương minh hung đoán
Trương thiện riệu uy
Trấn quốc an cương
Quan minh tấn triết
Cung ý quả quyết
Sáng pháp khai cờ
Cảnh thái vĩnh quang
Hàm trương tái vật
Mậu công hoành hiến
Pháp thiên hưng vận
Quách hoành khôi cương
Tề thánh thông minh
Võ anh quả tịch
Trương nghĩa bình tàn
Thánh nhân duệ trí
Cương kiên trung chính
Anh hung hào kiệt
Kiến nghĩa tạo mưu
Khai tiên xương hậu
Thái thủy phu tiên
Sùng cơ triệu khánh
Thần võ thánh văn
Hùng tài vĩ lược
Lập nghiệp phối thiên
Cao công đức hậu
Triệu mưu khải vận
Sáng nghiệp lập bản
Vua Lê Thế Tông còn ban tặng Kim Sách cho Thái vương Trịnh Kiểm:
Dòng Cự Phiệt, cây cao bóng cả
Tường Lê viên cuốn đá hoa cương
Xưa cờ nghĩa dấy lên, khanh một lòng ứng mộ
Đạt thông mọi việc làm ngay thẳng kinh luân
Vạn vật sinh sôi hợp thời tiết
Khiến cho cõi xưa thu lại, khuông tế quy mô
Cơ đồ hưng phục đó, phần nhiều do của Tiên vương giúp rập
Cơ nghiệp thịnh lên có người kế tự
Khanh một nhà Trung nghĩa, xã tắc An ninh
Chín Phần Dương tái tạo lại Quốc gia
Công cao cả bao trùm thiên hạ
Điều tốt đẹp đó đáng nêu gương để học
Khiến cho những ưu điểm tôn quý đó được phát huy.
Theo sách Thân thế Đào Duy Từ của tác giả Dương Tụ Quán, xuất bản năm 1944 tại Hà Nội thì ông Đào Tá Hán, thân phụ Đào Duy Từ đã viết bài ca ngợi tướng quân Trịnh Kiểm vẫn lưu truyền trong dân gian như sau:
… Trang quốc sỹ ai bằng Trịnh Kiểm
Trổ Thần uy đánh chiếm hai châu
Thẳng đường rong ruổi vó câu
Phù Lê diệt Mạc trước sau một lòng…
Trong từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh – Xuất bản năm 1930 , trang 496 có ghi về Thái vương Trịnh Kiểm: “ Con rể Nguyễn Kim, thay cha vợ làm tướng nhà Lê – Sau lấn quyền vua Lê mà làm chúa phương Bắc”. Tuy nhiên, có nhiều nhà sử học hiện nay đã phản bác cách chú thích này vì: Giai đoạn Thái vương Trịnh Kiểm cầm quân (1545-1570), lúc này ông chỉ là Thái sư, Đô tướng tiết chế của Nam Triều miền Tây Việt Nam (đối đầu với Bắc Triều của nhà Mạc) – Chỉ là chức quan đứng đầu triều đình Nam triều, điều hành công cuộc đánh Mạc để Trung hưng nhà Lê, làm gì đã có Trịnh – Nguyễn phân tranh mà gọi là chúa phương Bắc?, thực tế ông không phong mình là chúa, có thể Đào Duy Anh đã nhầm lẫn vì chúa phương Bắc và chúa phương Nam là ở giai đoạn sau của Thái vương Trịnh Kiểm. Thứ nữa, nói ông lấn quyền vua Lê thực tế chưa rõ ràng vì điều hành cuộc chiến tranh chống Mạc, Vua Lê đã giao toàn quyền quân sự cho Thái vương Trịnh Kiểm, nhưng những việc quan trọng thể hiện vương quyền như hiệu triệu toàn quân, bổ quan chức, phong tước vị, giao quyền hành… vẫn nằm trong tay Vua Lê, do đó không thể nói Thái vương lấn quyền vua Lê được. Sử sách cần tiếp tục sửa đổi, nhưng người đọc cần khách quan hơn trong nhìn nhận về tiền nhân.

Sự nghiệp
Năm 1527, Quyền thần Mạc Đăng Dung trong lúc chính trị cuối Nhà Hậu Lê rối ren, đã ép Vua Lê là Cung Hoàng Xuân thảo chiếu nhường ngôi (sau đó bức tử Vua để diệt hậu họa), lập nên nhà Mạc, mặc dù Vua Mạc đã có nhiều biện pháp nhằm an lòng dân sau sự việc trên, nhưng việc làm này khiến nhiều quan lại nhà Lê có phản ứng khác nhau, một số ở lại làm quan triều đình mới, một số từ quan về ở ẩn dật, một số nổi dậy chống lại nhà Mạc…. Nổi bật trong số lực lượng chống Mạc lúc bấy giờ có An Thanh hầu Nguyễn Kim giữ chức Thanh Hoa hữu vệ Điện tiền tướng quân quê làng Bái Trang huyện Tống Sơn, Trấn Thanh Hoa (Gia Miêu ngoại Trang, Hà Long, Hà Trung, Thanh Hóa), ông là cháu nội của Nghĩa Huân vương Nguyễn Văn Lang thuộc dòng dõi công thần lớn của triều Hậu Lê, nối truyền thống trung quân của Tổ tiên, ông không chịu khuất phục nhà Mạc, đã đem gia nhân và quân bản bộ chạy lên miền núi rừng phía Tây Thanh Hóa, lánh nạn sang nước Ai Lao. Tại đây ông được quốc vương Ai Lao là Sạ Đẩu giúp đỡ để nuôi dưỡng quân lính chiếu nạp kẻ đi trốn và những người có tư tưởng chống Mạc, ngầm tìm con cháu vua Lê để lập lên, mưu việc lớn. Năm Quý Tị 1533 Mùa xuân tháng giêng, Nguyễn Kim tìm được con út của Vua Lê Chiêu Tông tên là Lê Ninh trốn tránh ở rừng núi Lang Chánh trấn Thanh Hoa đưa về Sầm Châu, vùng đất giáp giới Việt – Lào, lập lên làm Vua, niueen hiệu Nguyên Hòa, dựng cờ “Phù Lê diệt Mạc”, thiết lập Triều đình gọi là Nam Triều (đối nghịch với Bắc Triều của nhà Mạc). Từ đó hào kiệt và người còn tưởng nhớ nhà Lê lần lượt tìm đến ngọn cờ của Nguyễn Kim để mưu việc lớn, lúc này Vua Lê phong Nguyễn Kim là Thượng phụ Thái sư Hưng Quốc công, thế Nam Bắc triều hình thành.

13339502_285312631811426_6923040603276229781_n

14440605_310886909269248_3425121356644442706_n

                  (Phủ Thái Kiều tại Phường Trung Phụng, Hà Nội, nơi thờ Thái vương Trịnh Kiểm)
Thái vương Trịnh Kiểm theo lời thuyết phục ‘bỏ chỗ tối tìm chỗ sáng” của người anh họ Trịnh Quang, và chính người anh này đã giới thiệu ông đầu quân làm gia tướng theo Hưng Quốc công Nguyễn Kim. Thấy ông có sức mạnh hơn người, lại giỏi việc dạy luyện ngựa (do trước đó chuyên luyện ngựa cho Ninh Bang hầu), Hưng Quốc công tin dùng giao cho chức Tri mã cơ chuyên lo việc luyện tập đội kỵ binh. Ông cùng với họ Vũ Thời Yên, người gốc Chiêm Thành, có tài về dạy luyện ngựa kết nghĩa anh em (về sau con cháu Vũ Thời Yên rất trung thành với Nhà Trịnh, trong các miếu, lăng, đền thờ… của nhà Trịnh đều có đôi phỏng người Chiêm quỳ chầu, thể hiện sự trung thành của người chiêm đối với Nhà Trịnh). Thái vương Trịnh Kiểm có sức khỏe, giỏi võ nghệ, có cơ mưu, quyết đoán nên việc gì làm cũng thành, được Hưng Quốc công rất tin yêu. Sách Đại Nam nhất thống chí của triều Nguyễn viết vào thế kỷ 19, đã ghi về mối quan hệ Thái vương Trịnh Kiểm và Hưng Quốc công Nguyễn Kim như sau: “ Triệu tổ (Tinh hoàng đế bản triều) biết Trịnh Kiểm là người có tài năng, kiến thức hơn người, yêu dấu như con, đem con gái thứ là Ngọc Bảo gả cho, Kiểm giúp dắp vua Lê Trang Tông, vì nhiều công lao được phong là Thái sư Lượng Quốc công…” .Mọi việc quân cơ quan trọng lúc bấy giờ Hưng Quốc công Nguyễn Kim đều giao cho Thái vương Trịnh Kiểm và ông đều làm tốt. Năm Nguyễn Kim gả con gái yêu cho Thái vương Trịnh Kiểm, ông đã 65 tuổi, Trong khi Thái vương Trịnh Kiểm ở vào tuổi lập thân (ba mươi), chín chắn, sau một thời gian lang bạt, còn Nguyễn Hoàng mới 8 tuổi, anh là Nguyễn Uông chưa đến hai mươi ! (Trưởng nữ Ngọc Bảo, theo Đại Việt Lê triều đế vương trung hưng thật lục, lúc kết hôn với Trịnh Kiểm còn là con gái trẻ ).

Năm Kỷ Hợi 1539, lúc Thái vương Trịnh Kiểm 37 tuổi, ông được Vua Lê phong làm Đại tướng quân, tước Dực Quận Công do có công cầm binh mã sang Ai Lao đón vua Lê Trang Tông về nơi hành tại ở sách Thúy Thuần (Cẩm Thủy, Thanh Hóa); có công về Vạn Lại (Thọ Xuân, Thanh Hóa) xây dựng kinh đô (tạm thời) là kinh đô kháng chiến của triều đình nhà Lê; có công vận động liên kết với các phụ đạo mường (tức lang đạo), các dân tộc miền núi Thanh Hóa – Nghệ An để tăng cường lực lượng, ảnh hưởng và thanh thế cho nghĩa quân “Phù Lê diệt Mạc”; có công đem quân đi đánh Nghệ An, đuổi tướng, quan nhà Mạc ra khỏi Thanh Hóa,…; Giúp nghĩa quân “Phù Lê diệt Mạc” tăng cường lực lượng, quy tụ hào kiệt bốn phương về giúp sự nghiệp Lê Trung hưng. Xuất thân từ tầng lớp dân nghèo cùng khổ, nhờ có tài năng trí dũng, Thái vương Trịnh Kiểm đã trở thành một tướng lĩnh có uy quyền được tướng sỹ mến mộ, đứng vị trị thứ hai sau bố vợ là Đô tướng tiết chế thủy bộ chư dinh Hưng Quốc công Nguyễn Kim của Nam Triều miền Tây Việt (để phân biệt với Bắc Triều miền Đông Việt của nhà Mạc. Việc gọi tên Tây Việt – Đông Việt là ngôn từ của các sử gia và quan lại hành chính của triều Lê Trung hưng đặt ra. Các văn bia còn lại thời đó ở vùng Tây Việt đều khắc ghi như vậy) (Theo Sự nghiệp các chúa Trịnh trong lịch sử nước Đại Việt, trang 23, Nxb văn hóa – thông tin năm 1996).

13590385_270133023344637_6512229522023920907_n

                (Tuổi trẻ Trịnh tộc bên lăng mộ Hưng Quốc công Nguyễn Kim, Ngoại tổ phụ Nhà Trịnh, nhạc phụ Thái vương Trịnh Kiểm)
Theo Đại Việt sử ký toàn thư – Bản kỷ tục biên Quyển 13, thì năm 1543, Thái vương Trịnh Kiểm cùng các tướng dưới quyền đánh chiếm Tây Đô, đón Vua Lê về đó để hiệp lực ba quân. Sau theo lệnh vua lại cho người đón Đô tướng Thái sư Nguyễn Kim ở Sầm Châu về. Lúc bấy giờ Quan Tổng trấn nhà Mạc là Trung Hậu hầu Dương Chấp Nhất ra hàng Vua Lê, uy tiếng công cuộc Trung hưng nhà Lê ngày một lẫy lừng.
Năm 1545, Đô tướng Thái sư Nguyễn Kim đem đại binh tiến đánh trấn Sơn Nam của triều Mạc, thế như chẻ tre, đánh đâu được đấy. Đến Yên Mô (Ninh Bình ngày nay), nhân buổi trưa nóng nực, hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất (theo lệnh của Mạc Phúc Hải giả hàng nhà Lê) đâng dưa có tẩm thuốc độc để đầu độc Nguyễn Kim, tin tưởng Dương Chấp Nhất, ông đã trúng độc chết, Dương Chấp Nhất trốn về với Mạc. Tình thế rất nguy nan cho phía Tây Việt, vì mất chủ tướng cầm đầu ba quân, đồng thời tuy đã lớn tuổi (77 tuổi) Đô tướng Thái sư Hưng Quốc công Nguyễn Kim chưa kịp chuẩn bị địa vị thừa kế cho con trưởng (vì chưa tham gia nhiều trận mạc, chưa có uy tín trong toàn quân) thì đã chết đột ngột, trong khi đó Thái vương Trịnh Kiểm là con rể, chín chắn, theo ông chinh chiến nhiều trận, lập được nhiều công lớn, có uy tín với toàn quân, có năng lực chỉ huy cuộc chiến và có tước vị cao (Dực Quận công, trong khi lúc này các con của Hưng Quốc công là Nguyên Uông tước tập ấm là Lãng Xuyên hầu và Nguyễn Hoàng là Hạ Khê hầu), trước tình thế nguy nan cần có chủ tướng cầm quân để yên lòng quân sỹ và có sức mạnh chống Mạc, phục vụ sự nghiệp trung hưng nhà Lê lâu dài, Vua Lê Trang Tông đã tấn phong Thái vương Trịnh Kiểm làm “Tiết chế các xứ thủy bộ chư linh, tước Lương Quốc công, được quyền nắm giữ việc binh và tổng tài chính trị, trị dân, dạy người, tuyên bố uy đức……” .

13669113_270133816677891_7835939953623434954_n
Đại việt sử ký toàn thư ghi: “Tháng 5 ngày 20 Ất Tỵ, Nguyễn Kim mất …… vua Lê phong Trịnh Kiểm làm Đô tướng Tiết chế các dinh thủy bộ kiêm Tổng nội ngoại Bình chương quân quốc trọng sự, Thái sư Lượng Quốc công. Mọi binh quyền ngoài khổn, công việc trong nước, trù tính mưu lược, phong tước bổ quan xa gần đều được tùy mình quyết định rồi sau mới tâu vua.”
Khi nhậm chức, Lạng Quốc công Trịnh Kiểm hết lòng trung trinh, phàm công việc gì đều quyết đoán rõ ràng, mọi việc đâu ra đấy.
Năm Bính Ngọ 1546, Lạng Quốc công Trịnh Kiểm rút quân từ Trấn Sơn Nam về Thanh Hóa, lập hành điện ở đồn Vạn Lại thuộc huyện Thụy Nguyên (Thọ Xuân) để cho Vua Lê ở, dựng hành dinh tại Biện Thượng rồi chiêu mộ những kẻ hào kiệt, luyện tập quân sĩ, tích trữ lương thảo để lo việc nước. Nhiều văn quan, võ tướng và kẻ thức giả từ phía Đông Việt bỏ nhà Mạc về Tây Đô theo nhà Lê Trung hưng ngày một đông như Phụng Quốc Công Lê Bá Ly, Trạng nguyên Nguyễn Thiến chức Lại bộ thượng thư Ngự sử đài Đô ngự sử Đông các Đại học sĩ Thư quận công; danh sỹ Lương Hữu Khánh, Phùng Khắc Khoan; Tây đạo tướng Thái úy Đoan Quốc công Nguyễn Khải Khang..v..v.. Hào kiệt châu Ái, châu Hoan và các nơi theo về rất đông, tình hình Nam Triều ngày một ổn định.
Năm Mậu Thân (1548), Vua Trang Tông mất, Lạng Quốc công Trịnh Kiểm cùng quần thần tôn lập Thái tử là Duy Hiên lên làm vua: tức là Lê Trung Tông.
Năm 1551, Thái sư Trịnh Kiểm giao binh cho Lê Bá Ly đánh Sơn Nam, Nguyễn Khang Khải đánh Sơn Tây, Vũ Văn Mật đánh Tuyên Quang. rồi cùng Kiểm tụ hội ở Thăng Long. Trước khi ra quân, ông viết 1 bức thư Nôm, kêu gọi mọi người hãy nhớ đến công ơn đức Thái tổ Lê Lợi năm xưa đã đánh đuổi giặc Minh, giành độc lập cho đất nước… để đồng lòng tôn phò vua Lê, tiêu diệt kẻ soán ngôi. Rồi cùng 3 tướng đồng loạt ra quân. Mạc Phúc Nguyên phải bỏ thành, chỉ để Mạc Kính Điển ở lại trấn giữ phía bắc sông Nhị. Sau khi chiếm thành, ông liền rút quân về Tây Đô để tránh quân Mạc huy động thêm viện binh đánh úp.
Năm 1553, năm Thuận Bình thứ 6 đời Vua Lê Trung Tông, Thái sư Trịnh Kiểm bành trướng lực lượng xuống phía Nam, sai tướng tâm phúc là Quảng Quận công Phạm Đốc coi vệ Kim Ngô đêm quân vào đánh chiếm hai châu Thuận Hóa và Quảng Nam, mở rộng bờ cõi Nam Triều Việt ra nước nước Đại Việt gồm 04 châu: Ái, Hoan, Thuận, Quảng . (Trích theo văn bia “Thần đạo bia” ở đền thờ Tĩnh Quốc công Phạm Đốc, hiện còn ở làng Thổ Phụ, xã Vĩnh Tiến, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Bia khắc chữ Hán, dựng năm Mậu Ngọ (1558). Như vậy, Thái sư Trịnh Kiểm là người có công đầu trong việc mở rộng bờ cõi Đại Việt về phía Nam, tạo tiền đề cho các thế hệ tiếp theo tiếp tục công cuộc mở cõi phía Nam tạo nên hình hài đất nước như hiện nay.
Tháng 9 năm Ất Mão 1555, Theo Đại Việt sử ký toàn thư: Thái sư Trịnh Kiểm chỉ huy phục kích đánh tan quân Mạc do danh tướng Mạc Kính Điển chỉ huy trên sông Mã từ núi Kim Sơn đến Ngã Ba Bông và Đền Hàn (Hà Trung, Thanh Hóa), khiến cho quân Mạc thiệt hại nặng “quân của giặc hơn vài vạn chết gần hết, thây giặc lấp kín sông… lấy được khí giới không xiết kể”, Tướng quân Mạc Kính Điển phải bỏ quân chạy mới thoát thân.
Năm 1556, vua Trung Tông mất không có con nối, dòng dõi nhà Lê không còn ai. Lưu truyền trong dân gian có kể sau khi Vua Lê Trung Tông mất, Thái sư Trịnh Kiểm lúc đó binh quyền rất lớn, muốn thay nhà Lê làm vua, nhưng còn ngại những lời dị nghị nên sai người đi hỏi Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trạng Trình mách khéo rằng: “giữ chùa thờ Phật thì ăn oản”. Trịnh Kiểm hiểu ý bèn tìm người trong dòng dõi nhà Lê là Lê Duy Bang (cháu 6 đời của Lê Trừ – anh Lê Lợi) lập làm vua, tức Lê Anh Tông. Tuy nhiên, hiện nay các nhà sử học, nhà nghiên cứu có những lập luận mới cho rằng, trước hết phải xuất phát từ lòng trung quân của Thái sư Trịnh Kiểm với sự nghiệp Lê Trung hưng và với sự nghiệp “Phù Lê diệt Mạc” của người cha vợ Nguyễn Kim cũng là ân nhân dìu dắt ông trong sự nghiệp đã tâm huyết gây dựng… Ông không thể phản bội, trở thành người bội nghĩa, bội tín để làm điều này như Mạc Đăng Dung với Nhà Lê được, sự thật nếu ông có dã tâm này, với khả năng và địa vị lúc bấy giờ ông có thể làm bất cứ lúc nào. Đồng thời, thời điểm khi Vua Trung Tông mất với lý do không tìm thấy tôn thất Nhà Lê, ông lên ngôi Vua sẽ không bị mang tiếng xấu giết vua, cướp ngôi như các vị vua trước. Ngoài ra, bản thân Thái sư Trịnh Kiểm là người mưu lược, quần thần Nam triều và Thái sư có nhiều người xuất chúng, có đủ khả năng hiến kế cho Thái sư để quyết định việc phải tìm con cháu dòng dõi nhà Lê lập làm Vua, vì hơn ai hết, trong tình thế này Thái sư hiểu lòng người vẫn còn hướng về nhà Lê (mặc dù nhà Mạc hiện đang có), sự nghiệp Trung hưng nhà Lê được nhân dân ủng hộ vì đây là ngọn cờ nghĩa để tập hợp lực lượng chống với nhà Mạc (lúc bây giờ bị coi là Ngụy triều vì giết vua cướp ngôi nhà Lê), đồng thời lực lượng Nam Triều chưa đủ mạnh để đương đầu với thế lực Bắc Triều, nếu mất chính nghĩa sẽ không thể chiến thắng Bắc Triều, thu non sông về một mối. Do đó, quyết định đi tìm tôn thất nhà Lê để giương cao ngọn cờ ‘Phù Lê diệt Mạc” là phù hợp với tình thế lúc đó mà người mưu lược như Thái sư Trịnh Kiểm có thể quyết định được.

images-7

                                                                      (Quân đội Nhà Trịnh)
Năm Mậu Ngọ niên hiệu Chính Trị thứ nhất (1558), bấy giờ đất Thuận Hóa mới bình định, Nhà Lê tuy đặt chức Tam ty và phân ra các Phủ, Huyện để cai trị những nhân tâm vẫn chưa yên, vả lại đây là nơi xa hiểm nên Thái sư Trịnh Kiểm ngày đem lo lắng. Biết lo lắng của Thái sư, Đoan Quận công Nguyễn Hoàng, con Hưng Quốc công Nguyễn Kim, em vợ Thái sư Trịnh Kiểm, lúc này đã đến tuổi lập thân (30 tuổi), và là dòng thế tướng, có tài năng, theo anh vợ lập được nhiều chiến công, có nhờ chị gái là Bảo Ngọc (vợ Thái sư Trịnh Kiểm) cho vào trấn đất Thuận Hóa.
Tháng 10 năm 1558, ông chấp thuận đề nghị của em vợ và dâng biểu tấu với vua Anh Tông, nội dung biểu tấu này thể hiện tầm chiến lược của Thái sư Trịnh Kiểm. Theo Đại việt thông sử trang 305-306 có nêu nội dung biểu tấu trên của Thái sư Trịnh Kiểm có đoạn: “Xứ Thuận Hóa là một kho tinh binh trong thiên hạ, buổi đầu quốc triều ta bắt đầu gầy dựng cơ nghiệp cũng đã dùng dân xứ ấy để dẹp yên giặc Ngô. Xứ ấy, địa thế hiểm trở, dân khí cương cường, lại có nhiều nguồn lợi trên rừng dưới biển, là vùng trọng yếu không xứ nào hơn.
Gần đây, quan quân kinh lược hàng mấy chục năm trời mới lấy được. Vậy nên hết sức bảo vệ, để làm một bức bình phong vững chắc.
… Hạ thần xét thấy con trai thứ của Chiêu Huân Tĩnh công là Nguyễn Hoàng, là một người trầm tĩnh, cương nghị, lại có mưu lược, đối với quân sĩ có độ lượng khoan dung, giản dị. Vậy xin bổ ông làm trấn thủ, để trị an nơi biên thùy và chống giặc ở miền Bắc kéo vào; và lại cùng Trấn Quận Công [Bùi Tá Hán] ở xứ Quảng Nam, cùng làm thế cứu viện lẫn nhau. Hết thảy các việc to nhỏ ở địa phương ấy, xin đều để ông tùy nghi định đoạt, lại xin ủy cho ông thu các sắc thuế, nộp về triều đình đúng kỳ hạn, để thêm vào sự chi tiêu trong nước.
Như vậy, thì một vùng Ô Châu, khỏi phải để ý lo tới, hạ thần sẽ khỏi phải phân tâm, mà chỉ dốc hết ý chí về việc đông chinh: bắt đầu kinh lý ở xứ Sơn Nam và xứ Sơn Tây rồi thứ đến khôi phục kinh đô cũ, tiểu trừ thoán nghịch. Nghiệp trung hưng sẽ có thể sớm thành công
Vua Anh Tông nghe theo lời Thái sư Trịnh Kiểm tâu, chuẩn cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa và Trấn Quận công Nguyễn Bá Quỳnh vào trấn thủ Quảng Nam, sắc cho mọi việc được chuyên trách, làm thế căn bản phía Nam, chuẩn bị lực lượng dồn sức cho cuộc tổng tấn công quân Mạc ở phía Bắc, từ đấy Mạc Phúc Nguyên không dám dòm ngó tới hai xứ Thuận Quảng.

nguyen-hoang-chua-tien-anh-mhoa
Về việc chấp thuận cử em vợ là Đoan Quận công Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa có nhiều sử sách viết khác nhau, suy diễn là ông đưa em vợ vào chỗ “xa xôi, lam chướng” và mượn tay nhà Mạc để loại trừ một kẻ “đối lập”.
Tuy nhiên, các cuốn Đại Việt thông sử cũng như Phủ biên tạp lục, Đại Việt sử ký toàn thư không hề có thông tin gì về việc Đoan Quận công Nguyễn Hoàng “tìm chỗ dung thân”, tránh việc Trịnh Kiểm có thể sát hại. Nếu mục đích chỉ đẩy ông em vợ đi vào chỗ hiểm nguy, Thái sư Trịnh Kiểm không nhọc công trình bày với vua Lê là một kế hoạch toàn diện và lâu dài như thế. Kế hoạch đó trên thực tế cho thấy người kế nhiệm Thái sư Trịnh Kiểm đã thực hiện thành công.
Nêu những đức tính của Nguyễn Hoàng và cho Nguyễn Hoàng được tùy nghi định đoạt mọi việc lớn nhỏ ở Thuận Hóa, Trịnh Kiểm tỏ ra không phải là một người nhỏ nhen, biết xếp đặt công việc để Nam Triều thêm vững chắc và thực hiện công việc chống Mạc thành công.
Theo Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong, Nhà xuất bản Khai Trí, Sài Gòn 1970, trang 135, thì chuyến đi của Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa không phải là chuyến đi của một người cùng đường tìm chỗ dung thân. Anh vợ là Thái sư Trịnh Kiểm đã cho phép cả một đoàn tháp tùng vị em vợ là tân trấn thủ.
Hương khúc huyện Tống Sơn và nghĩa dõng Thanh Hoa…, một số quan quân hai trấn Thanh Hoa và Nghệ An cũng tình nguyện theo vào. Các ông Nguyễn Ư Kỷ,… Mạc Cảnh Huống đều đem con em và gia quyến vào Nam với Đoan Quận công
Tổng số những người vào Thuận Hóa cùng với Nguyễn Hoàng lên đến cả ngàn người. Đây là lực lượng nòng cốt của Nguyễn Hoàng khi vào đến Ái tử. Chẳng những thế, Tống Phước Trị (Luân Quận Công) đang là trấn thủ Thuận Hóa cùng nhân sự tam ty đều ở lại theo giúp Nguyễn Hoàng.
Nếu Thái sư Trịnh Kiểm có ý xấu với Đoan Quận công Nguyễn Hoàng và Nguyễn Hoàng đang tìm chỗ nương thân xa vòng tay của Thái sư Trịnh Kiểm thì liệu có chuyện năm 1569, sau thời gian trấn thủ Thuận Hóa, Đoan Quận công Nguyễn Hoàng có trở lại Tây đô, lần ra Bắc này, Nguyễn Hoàng sau khi yết kiến vua Lê ở cung An Trường đã đến thăm anh rể là Thái sư Trịnh Kiểm, mà Đại việt sử ký toàn thư có mô tả cuộc gặp này như sau: “đến phủ Thượng tướng lạy mừng, giải bày tình cảm anh em, rất thương yêu quý mến nhau” . Thái sư Trịnh Kiểm ngợi khen công đức của Nguyễn Hoàng, đồng thời tâu Vua giao cho Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng trấn thủ thêm vùng Quảng Nam thành miền Thuận Quảng, lệnh gọi trấn thủ Quảng Nam Nguyễn Bá Quỳnh về trấn thủ Yên Trường – Vạn Lại.

Được Đoan Quận công Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, Thái sư Trịnh Kiểm không phải lo mặt Nam nữa nên năm Kỷ Mùi 1559, ông khởi binh đánh Mạc. Thái sư Trịnh Kiểm đem 6 vạn quân, nói phao lên là 12 vạn quân để hư chương thanh thế. Từ Tây Đô (Thanh Hóa) đoàn quân đánh đâu thắng đấy, tiến đánh Thiên Quan (Nho Quan bây giờ), theo đường Hưng Hóa – Tuyên Quang đánh về vùng Kinh Bắc (Bắc Ninh ngày nay), rồi tiến về Khoái Châu, Hồng Châu, Nam Sách (tỉnh Hưng Yên, Hải Dương hiện nay), rồi tiến đánh Đông Triều, Chí Linh miền Đông, giải phóng cả vùng rộng lớn. Cuộc hành quân của Thái sư Trịnh Kiểm làm rung chuyển đất Bắc Hà, làm cho Vua tôi nhà Mạc bối rối, Vua Mạc Phúc Nguyên phải lệnh tạm thời rời Triều đình về Thanh Đàm (Thanh Liệt ngày nay) để có kế sách chống giữ. Cả một vùng Tây Bắc, và Bắc, Đông Bắc Bắc Hà là hành lang hành quân của quân Nam Triều. Tuy nhiên, Thái sư Trịnh Kiểm không thể ở lại lâu do lo tướng Nhà Mạc là Mạc Kính Điển đem quân đánh úp Thanh Hóa, nên năm 1560, ông rút quân về Thanh Hóa, tổ chức lễ mừng công ở thành Tây Đô, quân doanh đóng tại Cao Mật (Vĩnh Thành ngày nay).
Từ khi lên nắm binh quyền, Thái sư Trịnh Kiểm ra sức củng cố lực lượng, chiêu mộ nhân tài, nên quân đội Nam Triều ngày càng hùng mạnh. Tuy nhiên thế Nam Triều – Bắc Triều luôn ở giàng co nhau, bất phân thắng bại, từ năm 1560-1569, Quân nhà Mạc do đại tướng Mạc Kính Điển chỉ huy 10 lần tấn công Thanh Hóa. Ngược lại, Trịnh Kiểm cũng 6 lần đánh lên Sơn Nam, thu hồi các huyện Yên Mô, Yên Khang, Phụng Hóa, Gia Viễn, khiến cho nhà Mạc ở phía Bắc phải kiêng nể.
Năm 1569, vua Lê Anh Tông gia phong cho Kiểm làm Thượng tướng Thái Quốc Công và tôn là Thượng phụ. Một năm sau năm 1570 thì Thái sư Trịnh Kiểm qua đời, hưởng thọ 68 tuổi.
Thái sư Trịnh Kiểm được truy tôn là Thế Tổ Minh Khang Thái Vương, hiệu là Trung Huân.

12321532_602905436540181_7157672034391332728_n

(Đại diện các Hội đồng Họ Trịnh cả nước trong ngày giỗ Minh khang Thái vương Trịnh Kiểm năm 2016)

Vai trò lịch sử
Cuộc đời ông về cơ bản là cuộc đời của một chiến binh. Các trận đánh lớn nhỏ của ông với quân nhà Mạc mà người chỉ huy của đội quân này là Mạc Kính Điển là những trận đánh bất phân thắng bại khi xét về tổng thể. Tuy nhiên, trong những năm tháng đó ông đã để lại di sản rất lớn cho lịch sử dân tộc Việt Nam ở những điểm sau:

img_10695500502562

                             (Thanh niên Trịnh tộc trong ngày giỗ Minh khang Thái vương Trịnh Kiểm)
• Ông đã mở đầu cho Đất nước một thời đại Lê Trung Hưng kéo dài 249 năm, lâu nhất trong lịch sử nước Đại Việt. Đây cũng là giai đoạn lâu nhất mà Đất nước không bị quân Tàu gây hấn hoặc tấn công. Thái vương Trịnh Kiểm là người có công rất lớn trong sự nghiệp Trung hưng nhà Lê, phải nói một cách khách quan nhất, lực lượng “Phù Lê diệt Mạc” trong một thời gian dài chỉ tập trung cho chuẩn bị lực lượng, nương náu bên Ai Lao, thường xuyên trốn tránh, đối phó với lực lượng mạnh của nhà Mạc, bằng chứng là mãi đến năm 1543 mới rời Sầm Châu về Tây Đô. Khi Thái vương Trịnh Kiểm xuất hiện đặc biệt từ khi lên nắm quyền, ông đã tạo ra cục diện mới cho nhà Lê và lực lượng “Phù Lê diệt Mạc”, liên tiếp thắng trận, mở mang đất đai chiếm lại từ tay nhà Mạc ra một cõi rộng lớn bao gồm cả vùng Thuận Quảng phía Nam và có những cuộc hành quân lớn làm cho nhà Mạc kinh sợ. Điều này đủ thấy tài năng thao lược của ông. Thái vương Trịnh Kiểm có công lập ba đời vua Lê Trang Tông, Lê Trung Tông và Lê Anh Tông, làm chức Thái sư, Đô tướng, hết lòng chăm lo cho sự nghiệp Trung hưng nhà Lê mà bố vợ ông là Chiêu Huân Tĩnh công Nguyễn Kim dựng lên. Nguyễn Kim đã có cái nhìn sáng suốt và lựa chọn chiến lược khi phát hiện, bồi dưỡng Trịnh Kiểm, gả con cái yêu cho Thái vương Trịnh Kiểm, và đưa Thái vương Trịnh Kiểm lên vị trí phó tướng, điều này cũng đánh giá nhân cách tuyệt vời của Hưng Quốc công Nguyễn Kim, ông không vì tình riêng mà bỏ sự nghiệp chung (đang ra lúc này ông đã già, phải có chuẩn bị khi lỡ ra đi, đưa con trai ruột lên vị trí cao để điều hành cuộc kháng chiến), ông chọn Trịnh Kiểm bởi vì ông nhìn thây ở Thái vương là con người tài năng, có lợi cho cuộc kháng chiến chống quân Mạc, điều này cũng cho thấy ông rất yêu mến Thái vương Trịnh Kiểm, không chỉ vì tài mà còn ở nhân cách khi tin tưởng Trịnh Kiểm sẽ trung thành với sự nghiệp Trung hưng nhà Lê mà ông đã dày công gây dựng, sự sáng suốt và chiến lược này được thể hiện trong Đại việt sử ký toàn thư tục biên và Đại Nam nhất thống chí cũng ghi giống nhau: “… biết Thượng tướng có tài trí hơn người, yêu quý như con, đem con gái thứ ba là Bảo Ngọc gả cho…”. Lịch sử đã ghi nhận công lao của Thái vương Trịnh Kiểm, người thay đổi cục diện đất nước thế kỷ XVI, tạo ra thế và lực mới cho lực lượng nhà Hậu Lê Trung hưng Nhà Lê, tạo ra giai đoạn lịch sử ổn định lâu dài cho đất nước. Về phần Thái vương Trịnh Kiểm, trong gần 25 năm nắm quyền binh chỉ làm nhiệm vụ một bề tôi trung thành, cần mẫn vì nước, vì vua, vì sự nghiệp Trung hưng nhà Lê. Lúc còn sống tướng vị cao nhất là Thái công, Thượng tướng, Thái sư, chưa bao giờ là chúa. Ông luôn học theo tấm gương của Nhạc phụ là Hưng Quốc công Nguyễn Kim, khi một lòng trung thành với nhà Lê, kể cả khi quyền binh nắm trong tay và nhà Lê đã hết người nối dõi nhưng vẫn không phản nghịch, cướp ngôi tự xưng mình là Vua, mà cố gắng tìm con cháu nhà Lê tôn sung. Khi mất đi, con trai là Triết vương Trịnh Tùng vì có công lớn được phong Bình an vương, được lập vương phủ cùng vua Lê lo việc nước, trở thành chúa, thì ông mới được truy phong là Minh khang Thái vương. Với ông, mặc dù có công lớn nhưng chưa có gì là riêng tư. Ở làng Biện Thượng, nơi ông lớn lên trong những năm tháng nghèo đói, gian khổ, sau này có Phủ Trịnh là do con cháu ông xây dựng khi đã có vương nghiệp. Vào thời ông chỉ có Tổng hành dinh của ông lập năm 1546, gọi là Biện dinh để chỉ đạo cuộc chiến với nhà Mạc, còn không có lầu son, gác tía hay sa hoa phú quý. Có lẽ chính đức tính giản dị và khiêm nhường này mà ông được quân sỹ yêu mến, nhà vua tin tưởng; ông phải là người đức độ, sống nhân văn, mưu lược thế nào mới thu phục được những nhân tài như Phùng Khắc Khoan, Lê Bá Ly, Lương Hữu Khánh, Nguyễn Khải Khang, Đặng Huấn…. Bỏ nơi phồn hoa bên nhà Mạc để theo về với ông trong cuộc chiến Phù Lê.

13124760_2047098758848945_5464772561102018397_n

                      (Con cháu đại diện hai dòng họ Trịnh – Nguyễn Phúc bắt tay nhau hướng về tổ tiên)
• Ông đã mở ra Vương nghiệp tồn tại 188 năm trong lịch sử (tính từ khi Triết vương Trịnh Tùng đánh tan quân Mạc, chiếm lại Thăng Long năm 1599 đến năm 1787 chúa Trịnh Bồng rời Thăng Long). Đây là giai đoạn lịch sử đặc biệt của Việt Nam và thế giới khi mô hình chính quyền “Lưỡng đầu chế” có Vua, có chúa…còn khá mới mẻ trong lịch sử lúc bấy giờ, nhưng lại là mô hình chính quyền lý tưởng sau này áp dụng với hình thức “Quân chủ lập hiến”. Giai đoạn này, dưới sự lãnh đạo của con cháu Thái vương Trịnh Kiểm đã để lại cho đất nước nhiều di sản chính trị, kinh tế, văn hóa, kiến trúc, quân sự, ngoại giao… đến ngày nay. Đặc biệt, giai đoạn này nước Đại Việt từ cổ chí kim đã thành công trong việc dùng Ngoại giao để đòi lại đất đai của Đất nước trước đó đã bị nhà Thanh (Trung Quốc) chiếm lấy từ sự phản bội của 1 tù trưởng miền núi, trong đó phải kể đến mỏ đồng Tụ Long do Nhà Trịnh bằng ngoại giao buộc Tàu phải trả cho Đại Việt mà không tốn một người tốt nào. Đây là bài học quý giá cho đời sau trong ngoại giao đòi lại chủ quyền đã mất… Ngoài ra, ông đã để lại di sản cho con cháu ông đời sau noi theo là lòng “Thủy trung”, Thủy trung với nhà Lê, một lòng phò tá vua Lê, không làm việc nghịch là cướp ngôi và thủy trung với đất nước, luôn đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, cương quyết không để mất một tấc đất nhỏ, còn đòi lại đất của tổ tiên đã mất; cũng không bị nhục với Tàu khi buộc Tàu phải tôn trọng ta, bỏ tục cúng nạp người cúi đầu khuất phục (do nhà Minh yêu cầu nhà Mạc cúng), phải công nhận Vua Lê tước Vương thay vì An Nam đô thống sứ công nhận cho nhà Mạc… và nhiều những thành tựu nữa.
• Ông đã góp phần tăng cường mối bang giao hữu hảo giữa Đại Việt (Việt Nam) với Ai Lao (Lào), đó là sự kiện nhân dịp Vua Sạ Đầu nước Ai Lao, ân nhân thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến “Phù Lê diệt Mạc” đem nhiều sản vật biếu nhà Vua, nhà Vua yêu cầu Thái vương Trịnh Kiểm gả con gái nuôi cho Vua Sạ Đẩu để tăng tình hòa hiếu với láng giềng. Ngoài ra, ông còn được biết đến là người có tài quản lý nhà nước trong kinh tế của ông là sai các viên quan đi đo đạc đất đai để thu thuế hay đắp đê, làm đường.
• Ông để lại cho hậu thế mối quan hệ thân tộc sâu sắc với các dòng họ như giữa dòng họ Trịnh – Vũ (Vũ Thời An, người gốc Chiêm, rất mực trung thành với nhà Trịnh); Trịnh – Hoàng (như Hoàng Đình Ái, là con cậu cũng là thuộc tướng Trung thành, có nhiều công lao); Trịnh – Lại (như Lại Thế Vinh, bố vợ của Thái vương Trịnh Kiểm, ông cũng là tướng giỏi lập nhiều công trạng); Trịnh – Trương (khi Thái vương lấy vợ là Trương Thị Ngọc Lãnh, con nhà tù trưởng dân tộc thiểu số…). Đặc biệt phải kể đến đó là mối quan hệ thân tộc giữa Nhà Trịnh và Nguyễn (dòng Hưng Quốc công Nguyễn Kim). Đây là mối quan hệ thân tộc rất đặc biệt, bắt đầu từ mối nhân duyên tôi hiền gặp tướng giỏi của Trịnh Kiểm với Nguyễn Kim, để rồi chính sự yêu mến, tin tưởng của Nguyễn Kim mà Trịnh Kiểm là người một nhà, con cháu của họ Nguyễn khi được Nguyễn Kim gả con gái yêu Nguyễn Thị Ngọc Bảo, sau này con cháu giữa hai dòng máu Trịnh – Nguyễn đã làm nên nghiệp lớn (đó là Triết vương Trịnh Tùng, mang gen của người mưu lược dũng mạnh Trịnh Kiểm và dòng thế tướng, quý tộc Nguyễn Thị Ngọc Bảo).

14192014_2128130107412476_7015725930529661846_n

            (Tuổi trẻ Trịnh tộc bên nhà thờ Thái tể Hoàng Đình Ái, anh em cô cậu với Thái vương Trịnh Kiểm)
Mối quan hệ này rất sâu sắc. Tuy nhiên trong dân gian thường có những câu chuyện truyền ngôn không có trong sách sử. Một số bộ sử sử dụng truyện truyền ngôn và sấm Trạng Trình như cứ liệu lịch sử, cho rằng cái chết của Nguyễn Uông do Trịnh Kiểm gây ra. Việc đẩy Nguyễn Hoàng vào phía Nam Hoàng Sơn cũng là thủ đoạn của Trịnh Kiểm mưu đồ chiếm binh quyền. Điều này ngày nay đã được các nhà sử học phân tích là phi lý. Có thể tham khảo bài viết “ Nguyên Hoàng 400 năm nhìn lại” của nhà nghiên cứu Trần Viết Ngạc tại địa chỉ http://chimvie3.free.fr/52/tvns072_NguyenHoang400Nam.htm . Để thấy sự phi lý trong lời suy diễn của dân gian thời gian qua. Căn cứ của lịch sử bao giờ cũng phải dựa trên cơ sở sự kiện và cứ liệu chân xác khoa học. Điều ta nhận thấy, trước khi Hưng Quốc công Nguyễn Kim mất, ông đã cao tuổi (77 tuổi), mà chưa chuẩn bị cho con trai cả là Nguyễn Uông mới ngoài 20 tuổi kế tục, trong khi tấn phong con rể là Trịnh Kiểm (lúc đó đã 43 tuổi) làm Phó tướng, điều này cho thấy Hưng Quốc công đặt sự nghiệp Trung hưng nhà Lê lên hàng đầu, chọn người tin cẩn, đã từng trải trận mạc, lập được nhiều công lớn, có dũng mãnh, mưu lược, có tài, đức thu phục nhân tâm, có uy danh với quân sỹ… để tiếp tục sự nghiệp Trung hưng nhà Lê, do đó việc tiếp quản quyền hành sau khi bố vợ mất của Thái vương Trịnh Kiểm là lẽ đương nhiên, Vua Lê chỉ công nhận thực tế lúc đó của Trịnh Kiểm mà thôi. Lúc này con của Nguyễn Kim còn nhỏ, chưa trận mạc nhiều, chưa có uy danh với quân sỹ, không phải là đối thủ của Trịnh Kiểm để mà tranh giành tước vị với Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng được. Có lẽ Nguyễn Uông không bằng lòng với chức tước tập ấm là Lãng Xuyên hầu cùng với em là Hạ Khê hầu trong lúc Trịnh Kiểm được vua Lê phong làm “Tiết chế các xứ thủy bộ chư linh, tước Lương Quốc công, được quyền nắm giữ việc binh và tổng tài chính trị, trị dân, dạy người, tuyên bố uy đức…...”
Đại việt sử ký toàn thư ghi:
Tháng 5 ngày 20 Ất Tỵ, Nguyễn Kim mất …… vua Lê phong Trịnh Kiểm làm Đô tướng Tiết chế các dinh thủy bộ kiêm Tổng nội ngoại Bình chương quân quốc trọng sự, Thái sư Lượng Quốc công. Mọi binh quyền ngoài khổn, công việc trong nước, trù tính mưu lược, phong tước bổ quan xa gần đều được tùy mình quyết định rồi sau mới tâu vua.”
Toàn thư và Đại Việt thông sử (của Nhà Nguyễn sau này) không nói gì về sự kiện tranh chấp quyền hành đưa đến cái chết của Nguyễn Uông. Nguyễn Uông trên danh nghĩa là kẻ thừa kế lý thuyết vì là trưởng nam của Nguyễn Kim, nhưng Nguyễn Kim đang còn lo đánh Mạc cùng Trịnh Kiểm, chưa chuẩn bị gì cho việc thừa kế (nếu có) của Nguyễn Uông.
Có thể nghĩ rằng Nguyễn Uông không bằng lòng vua Lê vì đã không nghĩ đến công lao tôn lập và gầy dựng Nam triều của cha mình. Nỗi bất mãn của Nguyễn Uông có thể đã được một số tùy tướng của Nguyễn Kim chia sẻ.
Lê Quý Đôn, trong Phủ biên tạp lục, hé lộ một số chi tiết:
Bọn Lãng quận công ngờ vua có mưu gì, toan làm loạn. Thế tổ [Trịnh Kiểm] bấy giờ làm đại tướng quân Dực quận công rước vua đến bản dinh, xin hết sức giúp đỡ. Lại hiểu dụ bọn Lãng quận công bỏ hết hiềm khích” (6)
Sau sự kiện “toan làm loạn này” Nguyễn Uông còn được phong đến Tướng Quận công. Trong khoảng thời gian 1549 đến 1556, Phủ biên tạp lục chỉ đề cập đến Nguyễn Hoàng nhờ lập quân công mà được thăng Đoan quận công mà không nói gì về Nguyễn Uông. Do đó, ta có thể phỏng đoán Uông chết trong khoảng thời gian từ 1546 đến năm 1549. Uông đã chết như thế nào, vào năm nào? Không có tài liệu nào cho biết.
Có một điều khó hiểu là các tài liệu của nhà Nguyễn dù khẳng định là Uông chết một cách không minh bạch, (do ám hại) và quả quyết là do Trịnh Kiểm nhưng không thể nói rõ Uông đã bị “ám hại” như thế nào, vào năm nào. Tiểu sử của Nguyễn Uông trong Nguyễn Phúc tộc thế phả và trong Đại Nam liệt truyện tiền biên rất sơ sài. Cả hai nguồn tư liệu chính thống đó không cho biết năm sinh, năm mất,thân mẫu, vợ và các con của Nguyễn Uông. Chi có một chi tiết hiếm hoi là Nguyễn Uông có một người con là Nguyễn Uyên đã theo Nguyễn Hoàng và Thuận Hoá năm 1558.
Có một sự kiện nào đó dẫn đến cái chết của Nguyễn Uông mà sử chính thống của nhà Nguyễn không muốn nhắc đến chăng ?
Tại sao sự kiện Nguyễn Uơng bị giết quan trọng như thế (đối với họ Nguyễn) lại thiếu minh bạch? Tại sao nhân thân của Nguyễn Uông lại được chính sử nhà Nguyễn ghi nhận một cách sơ sài và thiếu sót như thế? Tất nhiên, sự suy đoán nào cho dù hợp lý thì cũng không thể là sự thực lịch sử! Ta chỉ có ghi nhận một vài điểm:
– Không có tranh chấp giữa Trịnh Kiểm và Nguyễn Hoàng.
– Trịnh Kiểm không tranh đoạt quyền hành với Nguyễn Uông vì quyền hành của Trịnh Kiểm là do Trịnh Kiểm được nắm giữ sau cái chết bất ngờ của Nguyễn Kim. Có chăng là Nguyễn Uông muốn giành quyền với Trịnh Kiểm vì Nguyễn Uông là kẻ thừa kế theo huyết thống mà thôi.
Vì vậy, ta chỉ có thể kết luận là cái chết của Nguyễn Uông và cả nhân thân của Nguyễn Uông là không rõ ràng, thiếu chứng cứ (mà đáng ra phải có) và nên xem sự kiện ấy là một nghi án lịch sử mà thôi.
Còn vì nghi án Trịnh Kiểm đẩy Nguyễn Hoàng vào chỗ Lam chướng và Nguyễn Hoàng muốn rời vào Nam để tránh bị Trịnh Kiểm sát hại đã được minh chứng một phần phía trên… Một chi tiết đáng chú ý là quan hệ giữa Trịnh – Nguyễn là quan hệ thân tộc, sâu sắc, không có sự hiềm khích đến mức sát phạt nhau như Nhà Tây Sơn phá lăng miếu Nhà Lê tại Lam Kinh, xâm hại mồ mả các chúa Trịnh và Nguyễn ở Thanh Hóa và Phú Xuân… khiến khi thắng lợi, Nguyễn Ánh – Vua Gia Long cũng trả thù bằng cách đào tong miếu Tây Sơn, giết hại các quần thần theo Tây Sơn một cách tàn bạo. Tuy nhiên, đối với họ Trịnh, Nhà Nguyễn sau này (gốc từ Tổ Nguyễn Kim), có thái độ khoan hòa hơn, cụ thể:
Trong Trịnh Gia chính phả (1933) của Trịnh Như Tấu sưu tầm công bố sắc phong của Gia Long ngày 16 tháng 6 1802, chiếu cho ngoại quán các chi phái họ Trịnh đều biết:
Nhớ xưa: Họ ta cùng họ Trịnh vẫn là thân thích, quảng giữa Bắc – Nam đôi ngả thành xa cách nhau. Đó là công việc của tiền nhân, ta cũng không nên nói đến nữa.
Ta nay trả được hản, dẹp được giặc, trong ngoài thống nhất, như một nhà, thì tình nhân qua các từ xưa, lại nên nhớ đến. Vậy chiến ban cho trong họ đều biết: Nên phải bảo nhau, họp chọn lấy năm sáu người tộc trưởng, có tài cán đến hành doanh chầu mừng và đưa cả sổ sách gia tiên, để tìm rõ được chi phái đích thứ, mà thu lục cho, để luận nghĩa hai họ với nhau.
Phải nên kính vâng nhớ đó.
Nay Đặc chiếu.
Tiếp đến Ngày 23 tháng 9 năm 1802, Gia Long chiếu cho các phái đích tôn nhà Trịnh tuân biết:
Tiên tổ nhà ngươi vốn là thân thích với nhà ta. Dẫu rằng quãng giữa Bắc – Nam đôi ngả, đều là việc đã qua. Hiện đó giặc Tây Sơn dấy loạn, Đế – Tộ nhà Lê phải suy đồi, vương nghiệp nhà Trịnh cũng thiên di. Nay thiên hạ đã định, bốn bể đã trong, nghĩ lại tình thân qua – cát, cũng nên thương nhớ.
Vậy chuẩn tha cho lũ các ngươi: Thuế thân, thuế dụng, sưu lính, mọi việc và cho nối dõi tong đường họ Trịnh. Lại biệt cấp cho ruộng tế 500 mẫu, chiểu y sổ hộ cấp cho nhà ngươi nhận lĩnh số thế thóc thu hàng năm là 333 hộc 10 thăng và 75 quan tiền kho để làm lễ thập vật, y sổ chuẩn dung việc tế tự. Riêng về họ Trịnh đã khai tròng sổ bộ là 247 xuất cũng cho miễn cả sai dịch mọi việc, để tỏ phúc tốt nhà vua ban cho.
Phải nên kính vâng lời.
Nay hạ chiếu.
Hai họ phải thân thiết thế nào và không có xích mích lớn như dân gian đồn đoán thì Gia Long mới có thể có những chiếu như trên.

13096355_2047096575515830_3909997279672028940_n

(Con cháu hai họ Trịnh – Nguyễn đoàn kết hướng về tổ tiên)
• Thái vương Trịnh Kiểm là người sống có đức độ, ân tình với tiền nhân và người thân tộc.
Với bên ngoại, Hưng quốc công Nguyễn Kim, nhớ công ơn người dìu đắt, tạo dựng cơ đồ và tin yêu gả con gái. Thái Vương Trịnh Kiểm đã lập đền thờ Đức Hưng Quốc công Nguyễn Kim và Đức Thái phu nhân Nguyễn Thị Ngọc Bảo tại làng Gia Miêu Ngoại Trang, nay thuộc Hà Long, Hà Trung, Thanh Hóa.
Đối với người cứu sống Thái vương Trịnh Kiểm khi Ninh Bang Hầu truy đuổi, ông đã cho xây cất ngôi từ Đường ở Yên Hoàng, Yên Định thờ ông, cho con cháu tiền để xây dựng cơ nghiệp, phàm những ngày giỗ kỵ ở Phủ Trịnh, con cháu đến tế, thông lệ bao giờ cũng được ban tế tự đãi mâm cỗ.
Đối với anh họ Trịnh Quang, người có công thuyết phục giới thiệu Trịnh Kiểm với Hưng Quốc công Nguyễn Kim, oongh cất nhắc làm quan do có công trạng, chức Quốc công. Ban cho con cháu chăm nom miếu đền. Hằng năm ngày 1 tháng 4 âm lịch ngày giỗ Dục đức phu nhân, sau khi tế lễ ở xứ Quai Vạc, rước vong linh về Phủ Trịnh để tiếp tục tế lễ.
Đối với ông Mai Anh Dũng, người có công vớt xác mẹ Thái vương, ông cho xung vào quân đội, sau đó đóng quân ở Eo Lon, bảo vệ doanh phủ Chúa, phong tước quận công, năm 1602 Mai Anh Dũng mất được cấp 5 mẫu ruộng ở Hổ Vệ tế tự, Làng Toán Nghệ thờ Mai Anh Dũng làm thành hoàng làng.
Cha con Vũ Thời Yên (gốc Chiêm) là tướng tâm phúc, cho trông coi Phủ thờ tiên vương. Chim Vẹt đã che chở cho xác Mẫu thân Thái vương chọn Vẹt là vật linh đưa vào cung miếu (gọi là nghè Vẹt).

Gia đình
• Vợ:
o Chính phi Lại Thị Ngọc Trân, thụy Từ Phúc. Người làng Long Phúc, huyện Thạch Hà. Bà là con của Thái tể Trang Quốc Công Lại Thế Vinh, là chắt ngoại của Vua Lê Chiêu Tông. Bà mất ngày 20 tháng 8, án tang tại Bản Quán.
o Thứ phi Nguyễn Thị Ngọc Bảo, thụy Tử Nghi. Người làng Gia Miêu Ngoại trang, huyện Tống Sơn, con của Hưng Quốc công Nguyễn Kim.
o Hiền phi Trương Thị Ngọc Lãnh. Người sách Thọ Liêu, huyện Thạch Thành, con gái Sùng Đạo công Trương Phụ Đạo. Bà sinh ra Dương Nghĩa Công Trịnh Đỗ, mất vào năm 1646, thụy hiệu Tứ Hạnh, lăng táng ở quê nhà
• Con trai:
o Đạt Nghĩa công Trịnh Cối. Con của Chính phi Lại thị.
o Thành tổ Triết vương Trịnh Tùng. Con của thứ phi Nguyễn thị.
o Dương Nghĩa công Trịnh Đỗ: Dự phong Uy dũng tuyên lực kiệt tiết dực vận tán trị công thần truy tặng Thái tể thụy Ý Thuần. Ông là con thứ 3 của Đức Thái Vương, thân mẫu là Hiền phi Trương Thị Ngọc Lãnh. Năm Tân Mùi niên hiệu Chính Trị thứ 17 (1774) phong hàm Thái bảo Ngạn Quận Công; Năm Quý Tỵ (1593) phong hàm Thái Phó. Năm Bính Dần (1626) Phong tước Dương Lễ Công. Năm Vĩnh Tộ thứ 10 – (Mậu Thìn – 1628) phong Thái úy chưởng phủ sự Dương Lễ Công Trịnh Đỗ, khi ông mất được phong tặng: Thái tệ thụy Ý Thuần dự phong Dực vận tán trị Công Thần.
o Địch Nghĩa công Trịnh Đồng dự phong Dương vũ uy dũng tuyên lực kiệt tiết dực vận tán trị công thần. Ông không có con trai. Con gái lấy quan Lai vu bá Đinh Văn Lai (conm của Cầu Quận Công Đinh Văn Giai).
o Cần Nghĩa công Trịnh Ninh, chắt trường là phò mã vua Lê làm Tham đốc (hàm Nhị phẩm) tước Hán Trung hầu Trịnh Cát phụng tự.
• Con gái: 2 quận chúa.
Trưởng thượng Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Xuân Thụy Đức Phương.
Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Tôn Thụy Từ Tích

Share.

About Author

1 phản hồi

Leave A Reply