THÀNH TỔ TRIẾT VƯƠNG TRỊNH TÙNG QUA CÁC NGUỒN SỬ LIỆU – PGS.TS ĐINH KHẮC THUÂN

0

Chúa Trịnh Tùng qua các nguồn sử liệu

 PGS.TS. Đinh Khắc Thuân

Viện Nghiên cứu Hán Nôm – Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam

Trịnh Tùng tuy là con thứ của Trịnh Kiểm nhưng lại là người mở nghiệp Chúa và trở thành vị Chúa thứ nhất của họ Trịnh. Tuy nhiên sự đánh giá về công lao to lớn này của Trịnh Tùng chưa đầy đủ, thậm chí chưa thực sự thỏa đáng. Thực tế, Trịnh Tùng là người có nhiều công lao trung hưng sự nghiệp nhà Lê. Từ các nguồn sử liệu, bài viết này khái quát những sự kiện lịch sử nổi bật liên quan đến sự nghiệp của Trịnh Tùng nhằm có sự nhìn nhận thỏa đáng hơn về công lao của ông.

14825690_326284987729440_454778926_n

(Tuổi trẻ Trịnh tộc bên lăng mộ Thành tổ Triết vương Trịnh Tùng tại Vĩnh Hùng, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa)

Nguồn sử liệu mà chúng tôi sử dụng ở đây là các bộ Chính sử thời Lê ở Việt Nam, và một số tài liệu lịch sử Trung Quốc, cùng những tài liệu Hán Nôm khác. Những nguồn sử liệu này tập trung ở các sự kiện lịch sử nổi bật liên quan đến việc lập nghiệp và công cuộc trung hưng nhà Lê, cũng như tiểu sử của ông.

Về việc lập nghiệp của Trịnh Tùng

Sau khi Trịnh Kiểm mất, quyền bính được trao cho con trưởng là Trịnh Cối duy trì. Tuy nhiên, Trịnh Cối đã không thể đảm đương nổi trọng trách này, vì không được sự ủng hộ của cận thần. Vì thế, chính Trịnh Cối đã tự bỏ sang với nhà Mạc. Điều này được các nguồn sử liệu ghi chép khá rõ. Trái lại, Trịnh Tùng lại hội tụ đầy đủ tư chất của người kế nối nắm giữ quyền binh: “Khi sinh ra vốn bẩm sinh thông minh, tài đức hơn người, anh hùng nhất thời, có thể nối chí cha, giúp nên nghiệp đế. Công trung hưng của triều Lê thực dựng nền từ đấy” (Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch KHXH, H. 1998, t.3, tr. 139). Song vì, Trịnh Tùng là con thứ, nên khi Trịnh Kiểm bệnh nặng, đã dâng biểu xin thôi giữ quyền và được vua Lê chấp thuận đặc cách sai con trưởng là Trịnh Cối đốc lĩnh các dinh quân thủy bộ, con thứ là Trịnh Tùng cùng tướng tá phải theo mà đánh giặc. Và thực tế, Trịnh Tùng cùng các tướng lãnh luôn phải gánh vác mọi việc lớn. Sự kiện này đều được ghi chép khá rõ trong các bộ chính sử.

12993470_2037198296505658_4487897518517300720_n

(Chiến thuyền NhàTrịnh)

Tháng 4, ngày mồng 2, Đoan Vũ hầu Lê Cập Đệ, Văn Phong hầu Trịnh Vĩnh Thiệu, Vệ Đương hầu Trịnh Bách cùng bọn Lượng Quận công, Phổ Quận công Tich đang đêm đem con em và binh lính tới chỗ Phúc Lương hầu Trịnh Tùng bàn kế sách, ép Tùng phải hành động… Trịnh Cối tự liệu không chống nổi, thế quân ngày càng cô lập, liền đem bọn Lại Thế Mỹ, Vũ Sư Doãn, Trương Quốc Hoa và vợ con đến hàng họ Mạc. Kính Điển tiếp nhận, phong cho Cối tước Trung Lương hầu” ( Toàn thư, Bản kỷ, tờ 27a, 29a. Bản dịch tr 149, 150).

Ngày 20, vua sắc phong Trịnh Tùng làm Trưởng Quận công, Tiết chế các dinh thủy bộ, cầm quân đánh giặc”. Ngay sau khi nhận chức, Trịnh Tùng đã khao thưởng tướng sĩ và bắt tay vào công việc quân sự hết sức khẩn kíp “Hôm ấy, Tiết chế Trịnh Tùng hội các tướng, mở tiệc úy lạo quân sĩ. Võ tướng Vinh Quận công Hoàng Đình Ái, Tấn Quận công Trịnh Mô… Cùng 30 viên tướng hiệu, văn thần là bọn Lại bộ Thượng thư Tử Quận công Nguyễn Đình 12 viên, đều chỉ trời mà thề, đồng lòng chung sức, ngày đêm bàn kế đánh giặc, chia quân chiếm giữ cửa lũy các xứ, đào hào đắp lũy, đặt phục binh giữ nơi hiểm yếu để phòng quân Mạc” (Toàn thư, Bản kỷ 30a).

Như vậy, việc nối nghiệp binh quyền của Trịnh Tùng hoàn toàn là do thời thế tạo ra.

Về sự nghiệp trung hưng nhà Lê

Ngay sau khi được trao quyền bính chỉ huy quân sự, Trịnh Tùng liên tiếp chỉ huy quân đội chống lại quân Mạc. Từ năm 1571 đến năm 1592, Trịnh Tùng đã trực tiếp chỉ huy hàng trăm trận đánh lớn nhỏ chống lại nhà Mạc. Đặc biệt trong đó là trận đánh quyết định thắng lợi vào những năm 1591 và 1592.

 12924460_576252805871950_7422867170611268266_n

Con cháu họ Trịnh bên công trình xây lăng mộ Thành tổ Triết vương Trịnh Tùng

Năm Quang Hưng thứ 14 (1591), Trịnh Tùng mở trận đánh lớn vào kinh thành Thăng Long. Trận chiến này được Toàn thư mô tả khá cụ thể “Tiết chế Trịnh Tùng dốc quân qua sông Tô Lịch đến cầu Nhân Mục, đóng quân ở núi Xạ Đôi. Bèn chia quân bày trận, các đạo cùng tiến, hẹn ngay ngày hôm ấy đánh phá thành Thăng Long để lấy công đầu. Bèn sai tướng Doanh tả khu là bọn Nguyễn Hữu Liêu và Trịnh Ninh đem 1 vạn binh tượng đánh phá đường Cầu Dừa tiến thẳng đến cửa Tây; tướng Doanh hữu khu là bọn Hoàng Đình Ái và Trịnh Đồng đem 1 vạn 500 binh tượng đánh phá đường Cầu Dền, tiến thẳng đến cửa Nam Giao. Tướng Doanh tiền khu là Trịnh Đỗ đem các cơ trung quân và bọn Thụy Tráng hầu hợp binh tượng hơn 1 vạn 2 nghìn người đánh phá Cầu Muống tiến thẳng đến cửa Cầu Gỗ. Chia sai các tướng đã xong, mỗi người đều nhận lệnh sẵn sàng tiến phát. Tiết chế Trịnh Tùng đốc suất binh tượng đại doanh gồm 2 vạn 5 nghìn người làm hậu đội, tiến đến Hồng Mai đóng quân. Bèn hạ lệnh rằng: Bài binh bố trận đã xong, tất cả cờ xí không được giăng bậy, chiêng trống không được đánh…”.

Năm Nhâm Thìn, Quang Hưng thứ 15 (1592), mùa xuân, ngày mồng 3, Tiết chế Trịnh Tùng sai quan lập đàn sắm lễ, trai giới làm lễ tế trời đất, Thái Tổ Cao Hoàng Đế và các vị Hoàng đế của bản triều, cùng các vị linh thần núi sông, các danh tướng xưa nay trong nước. Khấn xong, Tiết chế Trịnh Tùng hội các tướng bàn việc tiến quân và cáo dụ rằng: “Cái thế chẻ tre không thể bỏ lỡ. Huống chi, ta vâng mệnh đi đánh kẻ trái phép, vốn để yên dân. Các tướng nên răn cấm tướng sĩ, nghiêm ngặt nhắc lại ước thúc, chấn chỉnh đội ngũ, hiệu lệnh rõ ràng, tin thực. Quân đi đến đâu, không được mảy may xâm phạm của dân, không được cướp bóc của dân lành, của cải không phải của giặc thì không được lấy bậy. Quân đi có kỷ luật thì giặc dễ phá.

Sau đó, hạ lệnh cho các dinh nhổ trại tiến đến bờ phía tây sông Ninh Giang. Quân đi đến đâu, không mảy may xâm phạm của dân, chợ không thay đổi quầy hàng, mọi người đều yên ổn như cũ, già trẻ, trai gái tranh nhau đem trâu, dê, cơm rượu, hương hoa đầy đường, đón tiếp vương sư, hàng phục trước cửa quân mà nói: Trước kia bị sương mù che khuất, ngày nay được thấy trời xanh, vui khắp trời đất.. Rồi đến đóng quân ở Ninh Giang, dựng đồn bày trận, vững như thành sắt. Bàn hạ lệnh rằng: tướng sĩ các doanh cơ, phải theo ba điều mà răn cấm các quân:

1. Không được tự tiện vào nhà dân lấy củi, hái rau;

2. Không được cướp bóc của cải, chặt phá hoa màu;

3. Không được hiếp dâm đàn bà con gái và giết người vì thù riêng.

Nếu ai vi phạm thì chém rao cho mọi người biết. Ba quân nghe lệnh, đều nghiêm chỉnh đội ngũ, không dám xâm phạm. Trăm họ vui mừng theo, đều nói rằng từ đời Tam đại về sau, nay mới lại thấy quân nhân nghĩa như thế. Người theo về đông như đi chợ. Những người có gan dạ, có tri thức, đều vui vẻ đến cửa quân để phục vụ.

Ngày mồng 5, Tiết chế Trịnh Tùng đốc quân vượt sông, tiến đến chùa Thiên Xuân. Gần đến cầu Nhân Mục, Mạc Mậu Hợp sợ quá, bỏ thành Thăng Long vượt sông Nhị Hà đến bến Bồ Đề, tại Thổ Khối, để lại các đại tướng chia nhau giữ các cửa trong thành.

Tháng 8, tiến quân ra phủ Trường Yên. Bắt được mẹ Mậu Hợp ở thành Trung Đô. Thuyền ra cửa sông Hát, tiến thẳng đến Kinh. Quân Mạc thua to, chết đuối không kể xiết. Từ đấy thu phục hết Kinh thành” (Toàn thư, bản kỷ, 24a, 27b).

Trong các trận đánh quyết định này, Trịnh Tùng không chỉ là một võ tướng tung hoành trên trận mạc mà còn là một nhà thao lược có tài chỉ huy giành thắng lợi cuối cùng, xứng danh là bậc đại công thần sự nghiệp trung hưng của nhà Lê.

14877795_326284871062785_2138051587_n

(tuổi trẻ Trịnh tộc bên lăng mộ Triết vương Trịnh Tùng)

Sau khi trở lại Kinh đô Thăng Long, xây dựng vương triều mới, Trịnh Tùng tiếp tục đóng vai trò quan trọng, nhất là trong quan hệ bang giao với nhà Minh. Sau năm 1593, có khá nhiều tàn quân nhà Mạc chạy sang biên giới nhà Minh như trốn sang Long Châu (Quảng Tây), rồi đem người Long Châu về cướp các châu Lạng Sơn. Tiết chế Trịnh Tùng phải sai quân đánh đuổi. Quân đội Minh luôn kiếm cớ để đe dọa triều đình nhà Lê. Chính Đặng Chung chức Phó Tổng binh Quảng Đông đã đích thân biên soạn tập sáchAn Nam đồ chí vào năm Mậu Thân (1608) niên hiệu Vạn Lịch nhà Minh. Tập sách này biên soạn nhằm phục vụ chiến tranh nếu xảy ra, bao gồm bản đồ hành chính nhà Mạc thế kỷ XVI, cùng các địa danh, núi sông, với các chú thích chi tiết ba ngả đường tiến quân thủy bộ từ phương Bắc đến Thăng Long, kinh đô nhà Lê Mạc.

Nhà Minh còn thường sai người sang dò la sự tình, hầu như không ngày nào không có. Bề tôi nhà Mạc thì luôn tố cáo tội trạng nhà Lê với nhà Minh. Vì thế nhà Minh nhiều lần sai sứ qua trấn Nam Quang mang điệp văn sang hẹn đến cửa quan hội khám có thực là con cháu họ Lê không. Để tránh sự xung đột với nhà Minh, nhà Lê phải cử người mang vàng bạc đến chờ hội khám. Năm 1597, sai Phùng Khắc Khoan đi sứ cầu phong. Chính sứ thần Phùng Khắc Khoan với tài ứng đối và văn chương của mình đã khiến nhà Minh và sứ thần các nước kính nể. Quan hệ bang giao với nhà Minh từ đó trở nên ổn định, đất nước thanh bình.

Ngay sau khi chiến tranh kết thúc, Tiết chế Trịnh Tùng sai tướng sĩ ra lệnh cho dân xiêu tán ở các huyện trở về nguyên quán yên nghiệp. Công cuộc tái thiết đất nước thời Lê Trịnh có đóng góp nhất định của chúa Trịnh Tùng.

Tóm lại, sử liệu về Trịnh Tùng khá phong phú, phản ánh khá cụ thể về thân thế, sự nghiệp và con người Trịnh Tùng trong việc lập nghiệp, trung hưng nhà Lê, đồng thời cho thấy vai trò to lớn của trong việc gây dựng vị thế chúa Trịnh bên cạnh vua Lê, trở thành vị chúa đầu tiên của họ Trịnh.

Share.

About Author

Leave A Reply