THẮNG LỢI CỦA TRIỀU ĐÌNH LÊ – TRỊNH TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP MỎ ĐỒNG TỤ LONG THẾ KỶ XVIII – TS. NGUYỄN HỮU TÂM

0

THẮNG LỢI CỦA TRIỀU ĐÌNH LÊ – TRỊNH TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP MỎ ĐỒNG TỤ LONG THẾ KỶ XVIII

Ts. Nguyễn Hữu Tâm

Triều Lê – Trịnh đã không ít lần giành được những thành quả lớn trong quá trình đấu tranh diễn ra vô cùng gay cấn, quyết liệt, lâu dài ở thế kỷ 18 nhằm giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Ngay năm đầu tiên của thế kỷ 18 đã nổ ra việc tranh chấp biên giới phía Bắc (với Trung Quốc). Thư tịch Việt Nam chép: “Tân Tỵ, năm Chính Hòa thứ 22 (1701) tháng 4, mùa hạ, Vi Vinh Diệu, Thổ tù phủ Tư Lăng Nhà Thanh, xâm lấn ruộng của dân châu Lộc Bình, (rồi lại lui về bản châu). Khi đó, triều đình Lê – Trịnh đã sai quan địa phương là Thổ ty Vi Phúc Vĩnh phải đốc thúc dân chúng cày cấy ở ven biên, đến thời kỳ lúa chín phải tăng cường canh phòng cẩn mật, đừng để cho người nước ngoài vượt biên sang gặt tranh lúa của dân, không nên động binh càn để gây hấn khích ở biên giới”[1]. Như vậy, phía chính quyền Lê – Trịnh trong trường hợp này, không muốn gây ra tình hình căng thẳng nơi biên giới để chủ động nhắc nhở các biên thần nâng cao cảnh giác, phòng thủ nghiêm ngặt, không nên dấy binh làm mất ổn định an ninh. Nhưng trước các hành động cố tình lấn chiếm đất đai của quan lại địa phương triều Thanh (Trung Quốc), khiến cho một vùng biên cương không được ổn định, cuộc sống của người dân biên giới bị xáo trộn, triều đình Lê – Trịnh đã kiên quyết thực hiện nhiều biện pháp để giữ vững an ninh vùng biên. Đặc biệt, triều đình Lê – Trịnh đã kết hợp phương thức ngoại giao mềm mỏng với hành động chống trả cứng rắn, buộc triều đình nhà Thanh cùng các viên quan địa phương phải ngừng việc xâm lấn, thậm chí còn phải hoàn trả những vùng đất đã chiếm đóng.

TuLongVietNam

(Vị trí Mỏ đồng Tụ Long và bản đồ biên giới hai nước)

Theo thống kê của chúng tôi từ bộ Thanh thực lục (Quốc sử Trung Quốc đời Thanh), chỉ trong vòng 11 năm từ 1741 đến 1751, các sử gia Trung Quốc ghi chép tới 32 sự kiện xoay quanh việc lấn chiếm trên biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc. Trung bình mỗi năm của thời kỳ này đều có 3 lần diễn ra tranh chấp tại vùng biên giới Việt – Trung. Toàn bộ các sự kiện này đều xảy ra trên các tỉnh biên cương phía Bắc Việt Nam như Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Quảng Ninh,…, những nơi tiếp giáp với các địa phương như các phủ Nam Ninh, Thái Bình, Trấn An thuộc tỉnh Vân Nam, hay động Tư Lặc, phố Đông Hưng của Khâm Châu, Quảng Đông, Trung Quốc.

Như vậy, việc tranh chấp biên giới phía Bắc Việt Nam với các tỉnh phía Nam Trung Quốc thường xuyên nổ ra trong nửa đầu thế kỷ 18. Nguyên nhân chính là do địa dư hai nước cận kề, dân cư sống phụ thuộc vào nhau nhiều, chỉ một va chạm nhỏ cũng đủ để dẫn đến xung đột. Điều này được chính viên Tuần phủ Cao Kỳ Trác trình bày rõ trong một bản tấu dâng lên vua Càn Long năm 1743: “Tuy trong (chỉ Trung Quốc), ngoài (chỉ Việt Nam) đã có sự phân chia rõ rệt, nhưng thôn trại liên tiếp, khói sương lan tỏa sang nhau rất nhiều, dân biên giới có khi chạy sang nhau làm thuê, hoặc buôn bán với nhau, từ xưa đều như thế cả, buổi sáng ở bên này, chiều tối ở bên kia. Không chỉ Quảng Tây đâu, mà nhân dân các tỉnh Vân Nam, Quảng Đông, Phúc Kiến, Giang Tây, Hồ Quảng thường trao đổi buôn bán và sang làm dân phu khai thác trong các mỏ xưởng cũng không thể kể xiết được[2]. Mặt khác, chính các viên quan trấn trị nơi biên giới của triều Thanh có ý thức bành trướng lãnh thổ, luôn muốn thu lợi về cho mình, nên đã nhiều lần chủ động đưa dân Trung Quốc sang xâm chiếm lãnh thổ Việt Nam. Ngay phía các sử gia Trung Quốc cũng phải công nhận sự thực này: Một số viên quan “lập ra tấn sở để kiểm soát, ngầm thu lợi riêng”[3].

AnSuNuiDat 11

(Bản đồ biên giới hai nước tại vị trí tranh chấp)

Nhiều vụ trang chấp vùng biên giới phía Bắc nổ ra đầu thế kỷ 18 như vùng đất Na Oa châu Tư Lăng[4], hay sự kiện Thổ quan châu Bằng (Bình) Tường sang trồng tre để xâm chiếm vùng biên giới Lạng Sơn, hay sự kiện lấn chiếm biên giới vùng biển Quảng Ninh thuộc đông bắc Việt Nam, diễn ra vào những năm 30 của thế kỷ 18[5]… đã được các nhà nghiên cứu đề cập đến trong những công trình nghiên cứu. Nhưng nổi bật nhất trong số đó là sự kiện đòi lại vùng đất có mỏ đồng Tụ Long.

Tác giả Tôn Hoằng Niên, Trung Quốc trong cuốn sách Nghiên cứu quan hệ tôn chủ phiên thuộc Trung Việt trong triều Thanh, trên cơ sở của Luận án Tiến sĩ, được xuất bản vào năm 2006, đã lấy việc tranh chấp mỏ đồng Tụ Long quy về sự tranh giành sông Đại Đổ Chú và Tiểu Đổ Chú giữa triều Lê – Trịnh với triều Thanh. Tác giả chia quá trình tranh chấp làm 3 thời kỳ:

  1. Từ năm 1691 – 1697;
  2. Từ năm 1724 – 1726;
  3. Từ năm 1727 – 1728.

Để phân chia theo thời kỳ, Tôn Hoằng Niên đã lấy sự kiện năm 1691, đoàn sứ thần triều Lê – Trịnh do hai chánh sứ Nguyễn Danh Nho và Nguyễn Quý Đức dẫn đầu dâng biểu vua Thanh đòi đất làm việc mở đầu tranh biện giành đất vùng mỏ đồng Tụ Long. Theo chúng tôi, căn cứ để phân kỳ này là không chính xác, tác giả họ Tôn đã cố tình lẩn tránh việc xâm chiếm lãnh thổ Việt Nam của Thổ ty Khai Hóa, Vân Nam vào năm 1688. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến việc tranh chấp kéo dài nhiều năm giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Ta phải lấy sự kiện năm 1688 là mở đầu cho quá trình đấu tranh kiên trì của triều đình Lê – Trịnh với triều Thanh về vùng đất có mỏ đồng Tụ Long thì mới phù hợp bới sự thật lịch sử.

Các quan địa phương phủ Khai Hóa, Vân Nam triều Thanh vào cuối thế kỷ 17, lợi dụng cơ hội Vũ Công Tuấn nổi loạn, bị quân Lê – Trịnh đuổi đánh phải chạy sang Vân Nam lánh nạn, đã cướp châu Vị Xuyên, Bảo Lạc và Thủy Vĩ, đặt tuần ty sách nhiễu thu thuế người buôn bán[6]. Mỏ đồng Tụ Long (thư tịch Trung Quốc gọi là Xưởng chì, hoặc Xưởng đồng Đô Long) nằm trong địa phận châu Vị Xuyên thuộc tỉnh Tuyên Quang (nay là Hà Giang) cũng bị triều Thanh chiếm lấy và tiến hành khai thác kiếm lợi. Ngay từ năm 1688, khi bị phía triều Thanh chiếm đất, triều đình Lê – Trịnh đã phái cử các quan đại thần Lê Huyến trấn thủ Tuyên Hưng cùng Đốc đồng Đặng Đức Nhuận và Trần Thọ đưa ra biện luận đòi lại đất, nhưng Thổ ti Vân Nam không chị trao trả”[7]. Tiếp theo, năm 1691, trong lần đi sứ sang dâng lễ tuế cống thường kỳ, hai viên chánh sứ là Nguyễn Danh Nho và Nguyễn Quý Đức nhân được gặp trực tiếp vua Khang Hy đã đề đạt vấn đề những vùng đất Việt Nam bị các quan triều Thanh chiếm giữ, trong đó có nhắc đến 3 châu Vị Xuyên, Bảo Lạc và Thủy Vĩ, những phía Triều đình Thanh cố tình làm ngơ[8].

Chính quyền Lê – Trịnh cương quyết giành lại vùng đất đã mất và đặc biệt là mỏ đồng Tụ Long, nguồn lợi lớn về khai thác khoảng chất. Trong những năm 20 của thế kỷ 18, mỏ đồng Tụ Long trở thành một điểm nóng trong việc giải quyết tranh chấp vùng biên giữa triều Lê – Trịnh và triều Thanh (Trung Quốc). Chính quyền phong kiến của Việt Nam và Trung Quốc thương xuyên có những cuộc đàm phán, thương thuyết về vấn đề này. Liên tục các năm 1724, 1725, 1726, triều đình Lê – Trịnh rất nhiều lần gửi công văn sang phía Tổng đốc Vân Quý là Cao Kỳ Trác đòi giải quyết triển để chủ quyền mỏ đồng Tụ Long. Chính do sự thúc ép gay gắt của phía Việt Nam, Tổng đốc Cao Kỳ Trác và Bố chính sứ Vân Nam là Lý Vệ cảm thấy không thể để tình hình trở nên căng thẳng và “mỏ đồng là việc nhỏ mà biên giới mới là trọng đại”[9]. Vì vậy, đến năm 1725, hai viên quan biên thần Vân Nam đã phải gửi bản tấu tình hình biên giới với Việt Nam lên chính quyền Trung ương triều Thanh và đưa ra phương hướng giải quyết mỏ đồng Tụ Long: “Kỷ Sửu, tháng 4, niên hiệu Ung Chính triều Thanh năm thứ 3 (2/6/1725). Tổng đốc Vân Quý là Cao Kỳ Trác dâng tâu: Phủ Khai Hóa của Vân Nam tiếp giáp với Giao Chỉ, có đất nội địa trước đã mất về Giao Chỉ. Nay nhân việc khai thác đồng, theo khai báo tường tận của Chánh sứ Lý Vệ, thần đã ủy phái cho Tổng binh Khai Hóa Phùng Doãn Trung đi thẩm tra, phát hiện từ xưởng Đô Long qua dưới núi Diên Xưởng (xưởng chì) 129 dặm và khoảng 30, 40 trại ở Nam Lang, Mãnh Khang, Nam Đinh… đều bị Giao Chỉ chiếm mất. Tra cứu lại trong sách “Vân Nam thông chí” chép: 240 dặm phía nam phủ Khai Hóa đến sông Đổ Chú của Giao Chỉ làm giới hạn, nay chính là vùng mà Giao Chỉ gọi là sông An (Yên) Biên. Cuối đời triều Minh, vì vùng đất này xa xôi, hoang vắng, đưa đê, tấn sở thuộc vào nội địa (Trung Quốc), chỉ riêng con suối nhỏ dưới núi Diên Xưởng (núi mỏ chì), gọi vống lên là sông Đổ Chú”[10]. Trong bản tâu này, các viên quan biên thần cũng nói rõ khó khăn trong việc giải quyết với chính quyền Lê – Trịnh về mỏ đồng Tụ Long: “Giao Chỉ dựa vào nguồn lợi lớn từ hai xưởng (Đô Long và Nam Đan), tất sẽ quanh co chống chế, đồng thời sẽ vu cho bọn thần vì tham lợi của hai xưởng đó mà không trình bày lên Triều đình[11].

13659179_273231146368158_5127918665886733518_n

(Tuổi trẻ Trịnh tộc thắp hương tại lăng mộ Nhân vương Trịnh Cương)

Phía triều Lê – Trịnh cũng với danh nghĩa Quốc vương An Nam gửi công văn biện bạch về mỏ đồng Tụ Long. Thư tịch Việt Nam viết: Trước khi có ý kiến phê chuẩn của vua Ung Chính, phía triều Thanh đã cho viên đại thần Phan Doãn Mẫn làm đại diện đàm phán với Việt Nam. Triều đình Lê – Trịnh cử Hồ Phi Tích và Vũ Công Tể đến nơi khám xét, thương nghị, song hai bên vẫn không đi đến thống nhất. Đến năm 1725, có tờ dụ của vua Thanh ban xuống, phía Việt Nam cử Đông các hiệu thư Vũ Đình Ân hội đồng lập giới mốc dưới núi Xưởng Chì[12]. Nhà Thanh trả lại cho ta 80 dặm, còn 40 dặm nơi có xưởng đồng (Tụ Long) vẫn còn bị quan phủ Khai Hóa chiếm giữ[13].

Theo ghi chép của thư tịch Trung Quốc, vua Ung Chính đang trị vì, sau khi đọc bản trình tâu của triều Thanh và triều Lê – Trịnh đã phê chuẩn như sau: “Đạo trị thiên hạ, nếu so phân cương với nhu viễn (vỗ về người xa) thì nhu viễn quan trọng hơn. Mà trong đạo nhu viễn, so sánh giữa sợ uy và phục đức thì phục đức quan trọng hơn. Cứ theo lời tâu thì Đô Long và Nam Đan từ cuối triều Minh đã thuộc về nước An Nam, không phải là họ dám xâm chiếm dưới triều Thanh ta đâu. Nước An Nam nhiều đời cung thuận Triều ta, đáng khen ngợi lắm, nên tưởng thưởng cho họ. Hà tất phải đi tranh với tiểu bang! Nếu không có lợi thì tranh làm gì nữa! Lòng trầm luôn chí công chí chính, coi trong ngoài đều là con đỏ, huống hồ hai vùng đất giáp nhau, tốt nhất là nên hòa thuận để yên tĩnh mà chiêu tập họ, không ngoài việc an dân họ cũng là an dân ta vây… Hành đồng tham lợi, ham công đều không được”[14].

Như vậy, việc triều đình Lê – Trịnh tích cực, kiên trì liên tục đấu tranh đòi đất đã khiến cho người đứng đầu vương triều Thanh phải nhượng bộ từng bước, tiến tới hoàn trả toàn bộ vùng đất có xưởng đồng Tụ Long.

Đến tháng 6/1728, Triều Thanh chính thức trao trả xưởng đồng Tụ Long cho chính quyền Lê – Trịnh, Khâm sai Phó Đô ngự sử cảu triều Thanh là Hàng Dịch Lộc cùng với nội các học sĩ Nhậm Lan Chi đến mang sắc của vua Ung Chính “ban đất”[15]. Sau đó, khi tiến hành lập giới mốc ở sông Đổ Chú, Thổ ty châu Khai Hóa, Trung Quốc muốn nhập nhèm lấy các vùng đất ở sách Bảo Sơn, nhưng các viên Tả thị lang bộ Binh Nguyễn Huy Nhuận cùng Tế tửu Nguyễn Công Thái đã chẳng ngại gian khổ, xông pha nơi lam chướng, tìm chính xác sông Đổ Chú và tiến hành lập bia ở nơi giáp giới. Sau hơn 40 năm đấu tranh kiên trì tính từ năm 1688 đến 1728, triều Thanh tuyên bố hoàn trả toàn bộ vùng đất đã chiếm của Đại Việt, cuối cùng xưởng đồng Tụ Long được ‘châu về hợp Phố”, cũng kể từ đó việc cương giới hai bên được ấn định[16].

Thắng lợi trong việc giải quyết vùng đất có mỏ đồng Tụ Long vào thế kỷ 18 ghi nhận quá trình đấu tranh của triều đình Lê – Trịnh với triều Thanh trên phương diện quốc gia và địa phương diễn ra một cách giằng dai, trường kỳ, không khoan nhượng. Đồng thời, cũng chứng tỏ chính sách bảo vệ biên cương, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia do Triều đình Lê – Trịnh thực thi đã đem lại thành quả khả quan.

[1] Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập II, Nxb Giáo dục, H.1998, tr.385-386.

[2] Tôn Hoằng Niên: Nghiên cứu quan hệ tôn chủ phiên thuộc Trung – Việt trong triều Thanh, Nxb. Giáo dục Hắc Long Giang, Harbin, 2006, tr.163.

[3] Tôn Hoằng Niên: Nghiên cứu quan hệ tôn chủ phiên thuộc Trung – Việt trong triều Thanh, Nxb. Giáo dục Hắc Long Giang, Harbin, 2006, tr.163.

[4] Nguyễn Hữu Tâm, Bồi tụng Nguyễn Đình Hoàn và việc giải quyết tranh chấp tại châu Lộc Bình (Lạng Sơn) thế kỷ 18. In trong Đình nguyên Hoàng Giáp Nguyễn Đình Hoàn (1661 – 1744), Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Nxb. Thế giới, H.2009, tr31-39.

[5] Nguyễn Hữu Tâm, Triều đình Lê – Trịnh với chính sách biên cương phía Bắc, Hội thảo do Hội sử học Hà Nội tổ chức.

[6] Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập II, tr.357 – 358

[7] Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập II, tr.357 – 358

[8] Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập II, tr.363

[9] Tôn Hoằng Niên: Nghiên cứu quan hệ tôn chủ phiên thuộc Trung – Việt trong triều Thanh, Nxb. Giáo dục Hắc Long Giang, Harbin, 2006, tr.203, trích lại từ thư tich cổ của Trung Quốc thời Thanh.

[10] Thanh Thế Tông thực lục, quyển 28.

[11] Cao Kỳ Trác Tổng đốc Vân Quý: “Bản tâu đợi quyết định về việc Hội Khám chưa rõ ràng biên giới với Giao Chỉ” ngày 16/11/1724.

[12] Thanh Thế tông thực lục, quyển 31, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập II, Sdd, tr.456-457.

[13] Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập II, Sdd, tr.456-457.

[14] Cao Kỳ Trác Tổng đốc Vân Quý: “Tập tâu báo đầy đủ về tình hình biên giới cũ với Giao Chỉ” ngày 26/1/1725, Vua Ung Chính phê châu.

[15] Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập II, tr.357 – 358

[16] Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập II, tr. 467.

Share.

About Author

Leave A Reply