TÀI NĂNG THƠ CA CỦA CHÚA THỊNH VƯƠNG TRỊNH SÂM

0

 

      TÀI NĂNG THƠ CA CỦA THỊNH VƯƠNG 

                    CHÚA TRỊNH SÂM

 

                                        Nhạc sỹ Trịnh Tuấn Khanh

                                  Phó Chủ tịch Hội đồng họ Trịnh Đà Nẵng

 

Cuộc đời của Thịnh Vương chúa Trịnh Sâm là cả một kho sử sách đã và đang bàn tới, còn nói dài dài. Trong bài “ TÀI NĂNG THƠ CA CỦA THỊNH VƯƠNG CHÚA TRỊNH SÂM” này, tôi: Nhạc sĩ Trịnh Tuấn Khanh chỉ ghi chép, biên tập lại một số nội dung chính về tài năng thơ ca của chúa Trịnh Sâm theo nội dung nghiên cứu của tác giả Quốc Chấn. Gởi tặng các bạn trẻ HỌ TRỊNH VIỆT NAM. Thế hệ con cháu dòng chúa hiện nay đang nối gót cha ông làm được nhiều việc lớn, nối tiếp trang sử liệt oanh mà cha ông chúng ta đang bỏ dở. Trước hết ta bàn luận chút xíu về một mối tình…

tuong-chua-trinh-sam_oneg

Có lẽ cuộc tình duyên giữa chúa Trịnh Sâm và Đặng Thị Huệ là mối tình đã được sử sách nước ta ghi chép, bình luận nhiều nhất, khen cũng nhiều, mà chê cũng không ít. Chỉ có điều con cháu chúng ta đòi hỏi lịch sử hãy công minh. Ai có công thì rạng danh, ai có tội thì lên án, thậm chí phải trừng trị. Hãy trả lại sự công minh cho sự thật! Hoàng Lê nhất thống chí đã ghi “ Trịnh Vương ‘ tức Trịnh Sâm’ là người cứng rắn, thông minh, quyết đoán, sáng suốt, trí tuệ hơn người, có đủ tài văn võ, đã xem khắp kinh sử, biết làm văn thơ…” Nghiên cứu sâu về Trịnh Sâm chúng ta ai cũng nhận thấy ông có một tính cách mạnh mẽ, chứ không phải mền yếu, là một người có tài và cũng giông như nhiều tài năng khác, ông rất say mê cái đẹp. Cái đẹp của thi ca, cái đẹp của thiên nhiên với những danh lam thắng cảnh mà ông đã từng chiêm ngưỡng và cả cái đẹp của con người, con người tài năng, con người nhan sắc!

Sử sách đều chép, Đặng Thị Huệ thoạt đầu chỉ là một nàng hầu bình thường trong cung vua Lê. Thế rồi lại sống với chúa Trịnh Sâm và thành vợ chồng. Thực chất Đặng Thị Huệ là người thế nào mà chúa lại siêu lòng? Trong thực tế chúa Trịnh Sâm là con người có tư chất, quyết đoán, thông minh và yêu thích văn thơ chữ nghĩa. Bởi thế việc nàng họ Đặng chinh phục được tình yêu của chúa, ngoài sắc đẹp, chắc chắn nàng cũng phải là một thiếu nữ có tài năng và tư chất. Ở đời, mà chủ yếu một số nhà Nho mang nặng lễ giáo phong kiến, vẫn định kiến Đặng Thị Huệ là con một gia đình bình dân tầm thường, xuất thân từ cô gái hái chè thì làm sao đòi sánh duyên cùng vua chúa? Và Trịnh Sâm yêu nàng cũng chỉ vì mù quáng mà thôi?

Song, sử sách đã cho chúng ta biết dòng họ Đặng của nàng, vào triều đại Lê – Trịnh đã sản sinh khá nhiều nhân vật danh tiếng, từng giữ các chức vụ cao trong triều đình hồi bấy giờ. Đặng Tiến Lâm là Đại tư đồ, đã giữ chức Chấn thủ Sơn Tây. Đặng Đình Tưởng đỗ tiến sĩ khoa Canh tuất (1670), làm đến Tể tướng. Một số người trong tộc họ Đặng làng Phù Đổng cũng đều là những nhân vật có tên tuổi như Đặng Công Chất, Đặng Công Diễn… đỗ tiến sĩ, giữ chức cao.. Theo một tài liệu dân gian cho biết thì cha nàng Đặng Thị Huệ là một tú tài nhưng không ra làm quan, mà ở nhà dạy cho nàng học.

506423c060b0d

Vậy là một thiếu nữ có nhan sắc, giỏi chữ nghĩa, lại sắc sảo thông minh và tư chất khác người như Đặng Thị Huệ, thì nhất định khi gặp một con người yêu cái đẹp, quí tài năng và thích văn thơ chữ nghĩa như Trịnh Sâm, chắc chắn phải có mối đồng cảm sâu sắc và tình yêu mãnh liệt!

Tục ngữ Việt Nam có câu: “ Khôn văn tế, dại văn bia”, bởi lẽ văn tế chỉ cần đọc lên rồi đốt đi, nếu tay bút có chỗ non kém, người đời cũng chẳng biết vin vào đâu để chê chách, phê phán. Còn văn bia khắc trên đá tồn tại bao đời, ai ai cũng thấy, nếu có sai xót thì người đời tha hồ bình phẩm lên án cái dốt nát của nhà thơ. Vì thế chỉ những nho sĩ đỗ đạt cao, thật tài năng mới dám làm văn bia. Ngay cả các tấm khắc bia dựng ở đình, chùa, người ta cũng phải nhờ những bậc đại nho, trạng nguyên, tiến sĩ chấp bút, ấy thế mà Thịnh Vương Trịnh Sâm đã để lại cho thế hệ chúng ta đến gần 50 bài thơ khắc trên đá! Có nhà nghiên cứu cho rằng Trịnh Sâm là một nhà thơ có nhiều thơ khắc lên đá và đã mệnh danh ông là thi sĩ” Thạch Thi” số một của nước ta.

56fb80369f144cb5b1d268d13c9bac16

Như sử sách đã ghi, Trịnh Sâm chẳng những là một nhà thơ, nhà văn có tài, mà ông còn là một võ tướng, nên hầu hết những địa điểm có tính chất quân sự, cũng như những danh lam thắng cảnh của đất nước ta thời bấy giờ đều có dấu chân ông: Cao Bằng, Lạng Sơn, Thuận Hóa, các hang động chùa chiền, núi non, cửa sông, cửa biển nổi tiếng hầu như đều có bút tích của nhà chúa ghi trên vách đá. Thơ của Trịnh Sâm phần nhiều là vịnh cảnh. Mỗi bài là mỗi hình ảnh sống động của nước non, cảnh sắc, khiến người đọc lâng lâng một tình yêu thiên nhiên, đất nước! Đọc thơ của Trịnh Sâm ta còn thấy cuộc sống thanh bình của người dân nơi thôn dã, với một con mắt lạc quan, thấm đậm tình người và niềm tự hào với quê hương, tổ quốc. Chúng ta hãy thưởng thức những vần thơ của chúa trên vách núi Bằng Trình:

 

         “… Thôn thị nhân quy sơ nguyệt thướng

               Khê than khách độ vãn chào sinh

              Thử lai chính nghị  tường phong thủy

              Thiều bạch tùy xa tụng thái bình.”

Dịch thơ:

      “… Kẻ quê tan chợ về làng

              Đò sang cập bến trăng vàng triều dâng

              Đất lành cảnh đẹp níu chân

              Theo xe bò lão ca ngân thái bình

tran-do-trang-an-8_vcwc

(Thơ chúa Trịnh Sâm đề tại Chùa Hương, ông cũng là người đầu tiên “mở lối” cho lễ hội chùa Hương)

   Điều chúng ta ngạc nhiên và khâm phục là đã gần 235 năm nay, kể từ khi Trịnh Sâm mất (1782), một số nho sĩ có quan điểm “ Phù Lê diệt Trịnh” đã gay gắt phê phán nhà chúa về cuộc đời riêng tư, về chọn người kế vị…nhưng hình như chưa một ai trong số họ chỉ trích văn thơ ông, mặc dù ông đã cho khắc những bài thơ của mình lên đá, công khai cho hậu thế thưởng thức, phẩm bình. Ngược lại đã có những nhà thơ ca ngợi thơ ông. Chẳng hạn như Xuân Diệu, nhà thơ trữ tình nổi tiếng, khi viết lời giới thiệu cho tập thơ “Chùa Hương” (do Sở văn hóa – Thông tin Hà Sơn Bình xuất bản năm 1988) đã xếp Trịnh Sâm vào hàng các nhà thơ tên tuổi nhất của nước ta có thơ vịnh thắng cảnh Chù Hương như Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Chu Mạnh Trinh, Bùi Dị, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Bính…Xuân Diệu lấy làm tâm đắc có một số câu thơ của chúa Trịnh Sâm đã được ông trích dẫn và đánh giá là “Rất hay”, hoặc “Những câu thơ ít gặp”. Chẳng hạn 2 câu thơ trong bài “Thăm động Tiên Sơn”:

“ Chở mây quanh quất lồng hương Phật

            Gõ đá vang lừng trỗi nhạc Tiên”

Và hai câu trong bài “ Vịnh núi Hinh Bồng”:

           Non xanh những thấy non không đá

           Suối biển nhìn qua suối gặp trời…”

Chúa Trịnh Sâm đã có một tình yêu say đắm trước vẻ đẹp của thiên nhiên, xã hội và con người nên ông mới có được một con mắt tinh tường khi đánh giá các danh lam thắng cảnh của đất nước ta hồi đó. Hầu hết những địa điểm chúa Trịnh Sâm đã đến chiêm ngưỡng và có thơ ca ngợi khắc lên vách đá, thì nay đều là những điểm du lịch nổi tiếng: Đông Hoa Lư (Ninh Bình), động Từ Thức, Hồ Công, Chùa Vồm (Thanh Hóa)… đặc biệt Trịnh Sâm là người đầu tiên có con mắt tinh tường khi ông đánh giá động Hương Tích

(Hòa Bình) là : “Động đẹp nhất nước Nam”. Toàn khu thắng cảnh Chùa Hương cũng được chúa mệnh danh là: “ Cảnh đẹp bậc nhất của nước Nam”

(Thanh kỳ đệ nhất chốn Nam thiên) Chúa đã làm thơ:

“ Trời vừa hé sáng bước lên thuyền

         Khoan mái chèo lan ghé bến Tiên

         Phong Nguyệt thờ ơ bầu ngọc đúc

         Giang sơn bỡ ngỡ bức tranh lồng

         Kìa kìa qui phượng ngong kinh Bối (Kinh phật viết trên lá Bối)

         Nọ nọ lân long lắng giáo thiền (Giáo lý đạo Phật)

        Cảnh lạ thú màu khôn xiết kể

        Thanh kỳ đệ nhất chốn Nam thiên”

ee49970413988357fa80860fb63468c4

(Thơ trên động Hồ Công do chúa Trịnh Sâm đề)

     Điều nhận xét của chúa Trịnh Sâm hơn hai trăm năm về trước quả không sai. Hằng năm khu thắng cảnh Hương Tích đã thu hút hàng chục vạn du khách trong và ngoài nước đến chiêm ngưỡng, tham quan. Ngoài các bài thơ về danh lam thắng cảnh, Trịnh Sâm còn có thơ vịnh trăng, vịnh các loài hoa và 4 mùa trong năm. Đầu thập niên 30 của thế kỷ này, nhà nghiên cứu Ứng Hòe Nguyễn Văn Tô đã phiên âm ra tiếng việt một số bài thơ của chúa Trịnh Sâm thuộc loại trên và cho đăng trong tập san của Hội Trí tri Bắc Kỳ. Ông Ứng Hòe đã ca ngợi thơ Trịnh Sâm giàu hình ảnh, nhạc điệu mà mỗi lần nghe đọc dường như đã chập chờn trước mắt và trong tai ta. Thơ Trịnh Sâm nhiều bài, ý lời chau chuốt, âm điệu thanh thót đầy chất chữ tình, mang dáng dấp của thơ ca lãng mạn, đã rung cảm và chinh phục được người đọc qua nhiều thế hệ.

Đến nay một số tác phẩm thơ của ông không còn. Xin giới thiệu 2 bài thơ của chúa Trịnh Sâm mà mấy chục năm trước đây, may mắn các bậc tiền bối đã sưu tầm được:

BÀI 1.

             “ Càn khôn tạo thiết trực nhi kiên

               Cảnh mĩ cao thanh mỗi tự nhiên

               Lương thủy nguyên lưu bài tích nhật

               Bằng sơn thạch lập thị hà niên

              Tam quan các hạ trường xuân địa

              Cửu phẩm kim đài Bắc đẩu thiên

              Vương tích đối đồng sơn thủy lượng

              Thạch bi kí tạc thế lưu truyền.

DỊCH THƠ:

           “ Đất trời tạo dựng vững bền lâu

              Cảnh trí thanh cao đẹp biết bao

             Dòng nước sông Lương bày tích trước

             Non Bằng đá núi dựng năm nào

             Tam quan lầu gác xuân dài mãi

             Chín bậc đài vàng Bắc Đẩu sao

             Tích chúa cùng non sông vững chãi

             Đời truyền bia tạc đá bia cao”.

(ghi theo địa chỉ xã Thiệu Hợp – Nguyễn Thị Mai sưu tầm,  Hương Nao dịch thơ )

BÀI 2:

           “Sơn thủy hồi hoàn giác hữu tình

            Luân huân thụy khí ủng Bằng Trình

            Nhất điều thạch khiếu thông u kính

            Cửu phẩm kim đài ỷ tiểu bình

      Thôn thị nhân qui sơ nguyệt thướng

     Khê than khách độ vãn trào sinh

      Thử lai chính nghị tường phong thủy

      Thiều bạch tùy xa tụng thái bình”

DICH THƠ:

 “ Núi sông gặp gỡ hữu tình

   Khí lành bao phủ Bằng Trình nước non

   Sườn bên hang đá lối mòn

   Chín tầng thẳng đứng chon von tháp vàng

  Kẻ quê tan chợ về làng

  Đò sang cập bến, trăng vàng, triều dâng

  Đất lành cảnh đẹp níu chân

 Theo xe bô lão ca ngân thái bình”

(Bùi Xuân Vĩ, phòng Hán Nôm thư viện tổng hợp Thanh Hóa cung cấp dịch thơ nôm: Hương Nao)

but-tich-doc-dao-cua-vua-le-chua-trinh-tren-dong-ho-cong_1_2_3_4_5_6-jpg

(Bài thơ nữa của Chúa Trịnh Sâm được khắc đá)

    Cuối năm Canh dần (1770) chúa Trịnh Sâm có một cuộc du hành vào xứ Thanh Hóa trong nửa năm liền, để: “Sửa sang lăng miếu, xem núi sông, coi trấn sở, xét quan lại, thăm hỏi ân tình của dân, khen thưởng úy lạo các quân…” (Đại Việt sử ký tục biên 1676-1789). Sau khi sửa sang xong lăng miếu tổ tiên, ở làng Sóc Sơn nay thuộc xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc, chúa Trịnh Sâm tiếp tục cuộc tuần hành bằng đường thủy sang phía nam huyện Vĩnh Lộc. Thăm động Hồ Công, một thắng tích đã nổi tiếng từ trước thuộc địa phận xã Vĩnh Ninh bây giờ. Chúa Trịnh Sâm ngỡ ngàng trước cảnh thiên nhiên hùng vĩ có khắc trên đá hai chữ: “Ngọc Hồ” và 4 chữ: “Thanh kỳ khả ái”, phía dưới ghi tác giả là Nhật Nam nguyên chủ vào tháng Tiểu xuân năm Canh Dần. Như vậy hai chữ “ Ngọc Hồ” hiện còn thấy trong động và bốn chữ “ Thanh kì khả ái” (xứ Thanh Kì lạ đáng yêu) là của Nhật Nam nguyên chủ,  tức chúa Trịnh Sâm được khắc vào tháng 10 năm Canh Dần, tức tháng 11 năm 1770.

Bài thơ đường luật của Chúa đề ở động Hồ Công trong dịp trên, hiện đã bị bom làm mất hẳn 16 chữ. May mắn trong cuốn “ Thanh Hóa kỳ thắng” của Hoàng Hậu và Lê Bá Đăng, bản chữ Hán chép tay dưới thời Thành Thái, còn ghi trọn vẹn bài thơ này. Dịch nôm như sau:

              “ Chập chùng lối đá lượn quanh co

                Đỉnh núi cao phô một Ngọc Hồ

                Đá hóa cóc già châu tỏa sáng

                Son phai tượng cũ tuyết loang mờ

                Đất phúc xưa nay nhiều thắng tích

               Cần chi tô điểm “võng xuyên đồ”?

Qua đaị tự “ Thanh kỳ khả ái “ và nội dung bài thơ, chúa Trịnh Sâm đã ca ngợi cảnh đẹp của Thanh Hóa nói riêng và của đất nước ta nói chung, đồng thời toát lên niềm tự hào đối với non sông gấm vóc Việt Nam. Rời danh thắng Hồ Công, Trịnh Sâm đi thuyền ngược dòng sông Mã lên vùng miền núi thuộc xã Cẩm Vân huyện Cẩm Thủy. Đây là miền đất hiểm trở, ít năm trước Hoàng Công Chất nổi loạn đã từng đóng căn cứ nơi này. Nhà chúa đã lên thăm động Diệu Sơn nằm ở lưng chừng. Đứng trước cửa động phóng tầm mắt bao quát cả một vùng hiểm địa, nhưng có sông núi bao quanh thật là hữu tình. Chúa Trịnh Sâm hứng khởi đã cho khắc bia bên phải ngoài cửa động hai đại tự: “ Trị Diệu” và phía bên trái trong động hai đại tự “ Cẩm Vân” cùng với một bài thơ đường luật chữ Hán. Dịch nôm:

    “ Nhà không hang rộng thợ trời xây

      Mầu nhiệm dấu truyền mãi tới nay

      Muôn thưở trăng tà thăm động thẳm

      Nửa song ghềnh cạn chín vòng xoay

      Trong mây chuông vọng xua trần tục

      Trước cửa voi nằm loang tuyết bay

      Đất nước thanh bình vui mở hội

      Bút lông bao quát núi sông này”

( HP đọc và dịch theo bản khắc trên vách động )

but-tich-doc-dao-cua-vua-le-chua-trinh-tren-dong-ho-cong-1

(Một bài thơ nữa của Chúa Trịnh Sâm)

       Bài thơ nói trên thấy đề vào năm Canh dần, trọng đông, tức tháng 12 năm 1770. Không rõ sau đó và dịp tết chúa Trịnh Sâm ở đâu. Chỉ biết đến tháng 2 năm Tân Dậu ( 1771), nhà chúa trở về Thăng Long bằng thuyền và dọc đường còn để lại rất nhiều bút tích trong hang, động, núi đá đến nay vẫn còn.

Thuyền xuôi dòng sông đến núi Vân Lỗi là một thắng tích nay thuộc xã Nga Lĩnh huyện Nga Sơn. Cảm hứng trước cảnh đẹp sắc núi Vân Lỗi màu đen nổi lên giữa sông nước mênh mông trắng xóa, rất đỗi hữu tình, chúa Trịnh Sâm đã đề một bài thơ chữ Hán: “ Du Vân Lỗi Sơn”, thể Đường luật, dịch nôm:

           “ Chơi núi Vân Lỗi

            Danh thắng nêu cao đệ nhất châu

           Dáng non như mực nước như dầu

           Am mây nửa khép am huyền hạc

           Bãi cát đường ngăn ép bạch âu

           Nẻo tuyết tiều men chân đá cứng

           Đường sau khách vượt bước ghềnh sâu

           Cao trông sóng cuộn theo tầm mắt

           Trời đất mênh mông một sắc thâu”

( PH-HN dịch theo bản khắc ở núi )

Bấy giờ có một nho sinh người Ninh Bình, tên là Ninh Tôn cũng có bài thơ ca ngợi thắng cảnh Vân Lỗi:

               “ Châu Aí lắm kỳ quan

           Trong đó có Vân Nham ( tức Vân Lỗi )

           Núi xanh ngôi chùa ẩn

           Vách đá chữ vua ban

           Non cao xa hướng lại

          Nước bạc lượn quanh ngang

           Cỏ cây xưa nay đủ

           Sông núi tự bận nhàn

          Trèo lên phóng tầm mắt

          Tưởng mình giữa mây ngàn!”

(Hương Nao dịch )

Chúa Trịnh Sâm đọc bài thơ của Ninh Tốn rất thích câu: “ Sông núi tự bận nhàn” ( Thủy thạch tự mang nhàn ), bèn cho đòi Ninh Tốn đến hỏi han và giao cho ông một chức quan trọng trong triều, để gần gũi chúa tiện trao đổi văn chương. Đến khoa thi năm Mậu Tuất, triều Cảnh Hưng thứ 39 (1778), Ninh Tốn đã thi đỗ tiến sĩ. Nhờ được chúa Trịnh Sâm trọng dụng, Ninh Tốn từng giữ các chức vụ trong triều đình thời Lê Trung hưng, có nhiều sáng tác văn học và trở thành một danh nho đương thời của nước ta. Sau khi chúa Trịnh Sâm mất, Ninh Tốn theo giúp triều Tây Sơn, được vua Quang Trung tin dùng, cho nắm giữ tới chức Binh bộ thượng thư!

Rời Vân Lỗi sơn, thuyền đi đến cửa biển Thần phù, nơi có ngọn núi Chích Trợ đứng sừng sững một mình, nổi lên giữa sóng nước mênh mông, chúa Trịnh Sâm bèn cho neo thuyền, lên vãn cảnh núi và sáng tác bài thơ sai khắc lên đá. Bài thơ 8 câu, tạm dịch:

                               “ Thơ chúa đề núi Chích Trợ

                                 Bát ngát trông vời biển sắc thâu

                                 Trời đem Trích Trợ chắn dòng sâu

                                 Một mình đứng sững nâng ngao cực

                               Ai dám nghênh ngang ép thẩn lâu?

                               Hơn chục biển bờ nâng trụ đá

                              Ba ngàn cõi thế dáng tiêu châu

                                Anh hùng chí khí vươn từ đó

                                 Thủa trước nào ai có tính đâu?”

Rời núi Chính Trợ, thuyền nhà chúa đi vào con sông Chính Đại và sông Hoạt, chảy giữa hai dãy núi Thần Phù hiểm trở, với nhiều ngọn “vút lên nghìn đầu dựng đứng”. Chúa Trịnh Sâm cảm hứng sáng tác bài thơ Đường luật, khắc lên vách núi. Dịch nôm:

 

                        “ Đêm trăng dạo thuyền trên cửa Thần Phù

                          Gió nhẹ triều dâng trăng sáng trôi

                         Lênh đênh chiếc lá thuận dòng xuôi

                         Làn sông ngấm nước bờ đôi phía

                         Rặng núi hang xanh bóng giữa trời

                        Thấp thoáng mâm châu am cổ hiệu

                       Thập thình chảy ngọc giọt thu rơi

                       Bàn về La Viên xưa đè sóng

                        Biển thẳm yến Dương? Chuyện cũ rồi.”

Bài thơ trên bị cây cối rêu phong che kín, mới phát hiện nhưng một vài chữ đã bị mờ, phải tạm đoán nhận để dịch! Cách nơi này một quãng, trên vách núi có khắc một chữ “Thần” rất lớn, chiều cao hơn một mét. Ngọn núi có chữ khắc gọi là núi Bin Thần. Do không biết từ thuở nào mà các dòng chữ nhỏ hai bên đề tên tác giả bị đục phá, nên một số sách vở xưa nhầm lẫn hoặc chưa xác định được chữ “Thần” đó là của ai? Sau khi một nhóm các nhà nghiên cứu khảo sát, họ nhận ra được dòng chữ “ Nhật nam nguyên chủ đặc sai”. Thì ra chính chúa Trịnh Sâm là người đặc biệt sai khắc chữ “Thần” đó, như thế có ngụ ý nơi đây có vị thần đứng trấn giữ một cửa biển huyết mạch, trên trục giao thông đường thủy của đất nước Việt Nam.

Tiếp tục hành trình qua các động Bạch Á, Từ Thức… chúa Trịnh Sâm đều dùng thuyền quan sát, đề thơ. Riêng bài thơ trước cửa động Từ Thức ,thấy ghi là “ Ngự chế Từ Thức động” sáng tác vào tháng 2 năm Tân Mão, mà tác giả là Nhật Nam nguyên chủ, nên người đời chưa biết rõ ai, vì thế cũng chưa thấy dịch và công bố. Nay nhờ xác định được bút danh “ Nhật Nam nguyên chủ” là chúa Trịnh Sâm, nên mới chính xác tác giả.

DICH:

Thơ chúa đề động Từ Thức

  Rời thuyền thừa hứng viến Từ công

                     Cửa động y nguyên khóa ánh hồng

                    Xiêm ráng biếc treo lồng gấm vóc

                   Gió mưa đá gõ vọng cung thương

                    Duyên tiên từ thủa ba sinh hẹn

                    Dâu bể mây đà mấy độ dâng?

                    Chớ bảo Dao Trì ngày thấm thoát

                    Chơi đây nào khác dạo Bồng hang.”

Dọc hành trình trở lại Thăng Long, chúa Trịnh Sâm còn có nhiều thơ, đại tự, đề ở các hang, động, núi, đá, thắng cảnh, danh lam suốt dọc các tỉnh Ninh Bình, Hà Nam, Hà Tây (cũ)…đến nay tuy bị hủy hoại mất nhiều, nhưng một số nơi vẫn còn bút tích!

13775432_277584662599473_7213507736548897807_n

Qủa là cuộc tuần hành của vị đứng đầu nhà nước phong kiến Việt Nam thế kỷ XVIII nhằm : “ Xem núi sông, coi trấn sở, xét quan lại…” như sử sách đã ghi, nhưng đó còn là chuyến đi thực địa của một nhà thơ tài năng, đã để lại cho hậu thế nhiều sáng tác đã hứng chịu thử thác của thời gian và cuộc sống trong hơn hai thế kỷ. Chúng ta con cháu dòng Họ đáng yêu này hãy sống, hành động sao cho khỏi hổ thẹn với tổ tiên VĂN VÕ SONG TOÀN – HƠN HAI TRĂM NĂM GIỮ YÊN BỜ CÕI – ĐẤT NƯỚC THANH BÌNH – KHÔNG BÓNG NGOẠI XÂM.

 

TRỊNH TUẤN KHANH

  

 

 

 

 

 

 

 

      

   

Share.

About Author

Leave A Reply