QUAN ĐIỂM KINH TẾ VÀ CHẾ ĐỘ RUỘNG ĐẤT CỦA VUA LÊ – CHÚA TRỊNH GIAI ĐOẠN 1676 – 1729

0

QUAN ĐIỂM KINH TẾ VÀ CHẾ ĐỘ RUỘNG ĐẤT CỦA

VUA LÊ – CHÚA TRỊNH GIAI ĐOẠN 1676 – 1729

Tuấn Đạt

Sau cuộc chiến tranh kéo dài hơn một thế kỷ rưỡi (1527 – 1672), vào cuối thế kỷ 17 sang đầu thế kỷ 18 đất nước hòa bình. Mặc dù non sông còn bị chia cắt thành Đàng Trong và Đàng Ngoài, nhưng đây là những thập kỷ hòa bình cần thiết để củng cố, xây dựng và phát triển kinh tế đất nước. Trong những năm đầu của niên hiệu Vĩnh Trị (1676 – 1680) đời vua Lê Hy Tông và các chúa Trịnh Tạc, Trịnh Căn, các sử thần triều Lê đã nhận xét về giai đoạn này: “Nhà vua tuân giữ cơ nghiệp có sẵn, rủ áo mà hưởng cuộc thịnh trị, kỷ cương thì chấn hưng, thưởng phạt thì nghiêm túc và công minh, phần nhiều các công khanh đều xứng đáng với chức vụ, trăm quan kinh giữ phép tắc chế độ, nhân dân được yên nghiệp làm ăn. Chính giữa khoảng niên hiệu Vĩnh Trị (1676 – 1680) và Chính Hòa (1681 – 1704) được đánh giá là bậc nhất thời Trung Hưng”. Tiếp đến là thời vua Lê Dụ Tông và chúa Trịnh Cương (1705 – 1729). Đó là một thời kỳ khá ổn định và hòa bình. Đánh giá về Triều vua Lê Dụ Tông và chúa Trịnh Cương chấp chính từ các sử thần Triều Lê cho đến nhà sử học Phan Huy Chú đều viết: “Bấy giờ Vua nối nghiệp thái bình, không biết việc binh đao, trong nước vô sự, triều đình đạt nhiều phép độ kỷ cương rất hẳn hoi, đầy đủ; các phương xa đến cống hiến và Trung Quốc trả lại đất đai; Thực là thời Thịnh…”[1].

Các vua Lê thời kỳ này được nhà Chúa nuôi dạy và đưa lên ngôi, họ rất hiểu biết thời thế và biết sát cánh với nhà Chúa để điều hành chính sự quốc gia. Còn bên phủ Chúa Trịnh, có thể nói rằng các Chúa Trịnh cầm quyền thời bấy giờ đều là những người có năng lực và rất tâm huyết với quốc sự, với đất nước.

Ngay sau khi hòa bình được lập lại, Chúa Trịnh Tạc bắt tay ngay vào việc củng cố bộ máy cai trị từ Trung ương đến địa phương khá quy củ theo lối “Chính quy”. Các văn thần phải thay phiên nhau vào ứng trực tại Phủ Chúa để sẵn sàng giải quyết công việc, được gọi là “nhập các”. Dưới sự tham vấn của tham tụng Phạm Công Trứ, một loạt các chính sách mới về ruộng đất được ban hành để giải quyết các hậu quả của cuộc chiến tranh. Bộ máy cai trị và thể chế ‘Cung vua – phủ Chúa” – Vua trị vì – Chúa chấp chính – Chính phủ điều hành chính sự được hoàn thiện. Vấn đề chính đặt ra lúc này là củng cố nền chính trị, kinh tế xã hội để đưa đất nước vào con đường phát triển.

Về chính trị, Nhà nước quân chủ tập quyền như thời Lê sơ không còn duy trì được nữa. Ở Đàng Ngoài, thể chế chính trị kiểu phân quyền Vua Lê – Chúa Trịnh đang ngày càng phát huy được sức mạnh của nó. Thực chất của cơ cấu chính quyền kép là sự bảo tồn những ánh hào quang của những người áo vải Lam Sơn xưa, bảo tồn dòng máu hoàng tộc Nhà Lê. Nếu không có các chúa Trịnh am tường lão luyện cả trên chính trường cũng như trong những chủ trương đúng đắn về đối ngoại, đối nội thì làm sao vua Lê có thể dọn dẹp cỏ rậm, lập nên triều đình; Trung Tông mở lại khoa thi, lấy nhân tài hào kiệt bốn phương đều quy tụ; Thế Tông mới 7 tuổi lên ngôi, vừa phải trị vì, vừa phải học; Thần Tông thích văn thơ cùng với nhà chúa một nhà hòa thuận; Huyền Tông ngồi chắp tay giữ nghiệp trước; Hy Tông ngồi mà trị; Dụ Tông không biết tới việc đao binh; Hiển Tông ngồi rũ áo chắp tay nhờ nghiệp đã sẵn. Lực lượng đông đảo các công thần từng lặn lội phò giúp vua Lê – Chúa Trịnh trong chiến tranh nay lại cùng nhau góp sức khôi phục lại nền kinh tế của đất nước. Rõ ràng, để thu phục được đông đảo đội ngũ ấy, Vua Lê – Chúa Trịnh phải tìm cách đưa ra những chính sách đãi ngộ thích đáng.

ad

(PHỦ CHÚA TRỊNH)

Một trong những chính sách hàng đầu giải quyết quyền lợi của đội ngũ công thần và binh lính cũng như đông đảo lực lượng nông dân – đó là chính sách ban cấp ruộng đấy cho họ. Trong khi đó nguồn tài nguyên đất đai đã bị tư hữu hóa và tập trung trong tay tầng lớp địa chủ nằm ngoài sự kiểm soát của Nhà nước. Đây là hệ quả của chính sách miễn thuế ruộng tư từ thời Lê sơ và cũng là hậu quả của cuộc chiến tranh và sự suy yếu của nhà nước trung ương tập quyền. Bên cạnh đó, sự tác động của kinh tế hàng hóa và tư tưởng tư hữu đã làm phá vỡ mô hình lý tưởng nhưng đầy ý chí chủ quan từ thời Lê sơ: dân đinh – ruộng đất – nhà nước, cùng với nó là việc khai báo và kiểm kê số dân binh và ruộng đất trong nước không chặt chẽ.

Tháng 7 năm 1663 nhắc rõ lại 44 điều giáo hóa ban cho các làng, xã có những điều quy định: “Đường xá ở hương thôn đã có giới hạn, không được chiếm đường đi làm vườn tược; không được lẩn khe ngòi làm hồ ao; lợi của núi sông chằm cùng mọi người đều hưởng; cấy ruộng thâm canh không được đòi nhau tiền thóc”[2]. Cho phép xã, thôn trưởng đo khám ai không tuân thủ thì phạt, hoặc “Núi, rừng, khe, đầm, cống, đập nếu không phải là sở hữu của tổ tiên để lại thì phải để cho mọi người cùng hưởng, không được tự chiếm làm của riêng…”[3].

Năm 1672, Nhà nước lại quyết định giảm bớt số lộc điền cấp cho các công thần (duy Lê Lai là người có công lớn, số ruộng vẫn được cấp như cũ). Như vậy, Nhà nước Lê – Trịnh đang tìm cách ngăn cản quá trình tư hữu hóa ruộng đất ở nông thôn, không để ruộng đất công tập trung quá nhiều vào các bậc quan lại. Đây là những chính sách lớn của Vua Lê – Chúa Trịnh nhằm ngăn cản xu hướng tư hữu hóa và những cuộc tranh giành địa giới giữa các phường, xã, thôn.

Để đề ra được những chính sách thích hợp, phù hợp với các bậc công thần, dân lính và nhân dân, các chúa Trịnh đã sử dụng các công thần như Phạm Công Trứ, Vũ Duy Chí, Nguyễn Quán Nho, Nguyễn Quý Đức… cùng suy nghĩ tìm ra các biện pháp thích hợp và hữu hiệu nhằm nắm lại tình hình ruộng đất trong phạm vi cả nước. Theo lời bàn của các tham tụng, Năm 1694, chúa Trịnh đã ban hành việc làm sổ địa giới, gọi là “Tu tri bạ”.

Niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 7 (1711) với sự tham vấn của tham tụng Nguyễn Quý Đức, chúa Trịnh đã ban hành lệnh cấm các nhà quyền quý thế giá, các quan viên, các nha môn và các người hào phú không được nhân dịp những xã dân vì nghèo đói phải xiêu giạt mà mua ruộng đất (của họ) chiếm làm của riêng, tự tiện lập thành trang trại, rồi chứa chấp những kẻ trốn tránh dùng làm người ở riêng để cày trồng cho mình. Nếu ai đã từng thiết lập trang trại ở một xứ nào đó rồi thì cho phép tự mình được triệt đi, hẹn trong ba tháng là hết. Nếu ai chần chừ cưỡng lại thì cho phép quan hai ti Thừa Chính và Hiến Sát đến nơi điều tra xem xét rồi báo lên sẽ luận tội theo pháp luật, rồi giao cho trấn quan triệt bỏ (trang trại ấy) để răn những kẻ khinh lờn phép nước…

Còn những người dân nào vốn vì nghèo đói phải phiêu lưu đi ngụ cư ở xã khác, nhờ mượn được mảnh đất nào đó để hàng ngày trồng trọt, đã khai khẩn thành ruộng vườn rồi và có đóng góp với dân xã mà mình ngụ cư thì đều cho phép được cư trú và cày trồng như cũ… Những dân sở tại có ruộng đất không được thừa cơ mà đuổi người ta đi. Làm như vậy cốt khiến cho ai nấy đều được thỏa thuê về sự làm ăn sinh sống.[4]

Chính sách quân điền mới được ban hành vào năm 1711 theo nhà sử học Phan Huy Chú: “Dụ Tông năm Vĩnh Thịnh thứ 7 (1711), định lệ phân cấp ruộng công, theo chế độ cũ thì 6 năm một kỳ quân cấp ruộng công, các quan huyện, châu vâng lệnh thi hành, cứ tùy theo nhân số trong xã nhiều hay ít, kê ra từng hạng, chiểu sổ mà cấp theo thứ bậc khác nhau, rồi đem sổ chia cấp nộp lên quan thừa ti để lưu chiểu làm bằng”[5]

14572826_907757649356600_8281602005595926542_n

Trong tình hình ruộng đất tư hữu hóa đã phát triển mạnh ở cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18, đây là một chính sách nhằm khắc phục tình trạng tập trung ruộng đất vào tay quan lại, địa chủ, đảm bảo cho người nông dân nghèo có được phần ruộng đất tối thiểu tùy theo điều kiện của từng làng, xã để họ có điều kiện sinh sống và làm nghĩa vụ đối với nhà nước.

Chính sách quân điền năm 1711 có những nội dung cơ bản sau:

– Về niên hạn quân cấp theo lệ cũ cứ 6 năm là một kỳ hạn. Các xã mà dân đinh phải nộp thuế cho nhà nước (nội vi tử) thì cho phép quan trưng thu đúng lệ chi cấp cho xã nào đã đến lượt. Các xã liệt vào hàng chế lộc[6], ngụ lộc[7], và tự sự[8] thì cho phép viên quan cai thu chi cấp cho xã nào đến lượt đáng được cấp. Các sổ sách chia thành từng loán (loại hạ) đến nộp lên quan hộ phiên, đợi lệnh chỉ để thi hành. Hạn cấp ruộng mùa không để quá đến tháng 3, hạn cấp ruộng chiêm không được để quá đến tháng 9, để thích hợp mùa làm ruộng sau khi cấp xong phải đem sổ ruộng lên quan Hộ phiên. Xã nào có ruộng công và đất bãi mà từ trước tới nay không có thể lệ phân cấp thì cứ để cho xã ấy được theo tục lệ chiểu thứ bậc ra mà chia nhau để khỏi sinh sự.

Đất thổ cư trước đến nay đã được trừ thuế thì cho phép xã chiểu theo thứ bậc mà chia nhau để ai ai cũng đều có đất ở. Kẻ cường hào không được kiêm tính. Đất công ở xã nào từ trước đến nay nếu vẫn chia nhau để cư trú, rồi các chủ đã mua đi bán lại lâu ngày đã thành lệ thì vẫn cho phép làm theo lệ để tiện cho dân.

– Các xã có ruộng công thì phải thống kê số người trong xã là bao nhiêu, số ruộng là bao nhiêu, ruộng nhiều thì chia theo mẫu làm từng phần, ruộng ít thì chia theo sào theo thước làm từng phần, nhưng phải căn cứ vào chức sắc và ngôi thứ, tuổi tác trong hệ hương ẩm mà cấp theo thứ tự trước sau, không được tự tiện để cho những kẻ có chức, có quyền đảo lộn ngôi thứ. Làm như vậy để ngăn chặn những kẻ cầu cạnh, nhập nhằng hú họa cầu may. Trong xã nếu có những ruộng cầm cố và nợ nần thì cho phép quan phụng cấp được thu hết về để chia đều ra, cho phép người mua ruộng xuất trình văn khế để lấy lại tiền mỗi mẫu là hai quan tiền cổ (quý). Nếu số tiền trừ chưa hết thì cho phép trả tiếp làm hai đợt – đợt tháng 5 và đợt tháng 10. Từ nay về sau, nếu là ruộng và đất bãi công thì không được phép mua bán, ai trái lệnh sẽ bị trị tội theo luật định.

13062530_232010553823551_842094004817327731_n

– Dân xã nào nếu có số ruộng ẩn lậu là bao nhiêu thì cho phép gộp vào để chia cấp, theo từng hạng ruộng mà miễn thuế như cũ.

– Các xã có ruộng công hay ruộng tư bỏ hóa thì nên tính xem ruộng công trong xã ấy là bao nhiêu, theo loại mà khai ra; số người không có ruộng và số người ít ruộng là bao nhiêu, rồi chiểu theo số người mà cấp; ai đã có ruộng của vợ hoặc của mình đã phân rồi thì đình chỉ việc cấp thêm nữa, còn ai còn thiếu hoặc còn ít thì xem xét cấp thêm cho đủ phần. Còn như thứ bậc thì cũng căn cứ theo ngôi thứ hương tục, không được nhập nhằng làm chuyện cầu may. Đối với những người ‘quyền cai thủ dịch” cũng cùng một thể lệ như quân cấp ruộng công.

– Dân đinh bắt đầu được cấp ruộng hoặc từ 18 tuổi, hoặc từ 20 tuổi là tùy theo tục lệ của từng làng mà chia cấp. Những người thực hành viên quân cấp không được làm theo ý riêng, tự mình đặt ra hiệu lượng. Người dân nào đã đến tuổi được cấp ruộng mà chưa đến kỳ cấp ruộng thì phải xem xét trong xã số người đã đến tuổi 60 là bao nhiêu, số ruộng được trả lại là bao nhiêu thì cho phép xã trưởng và thôn trưởng tạm đem số ruộng ấy tùy nhiều hay ít mà chia cấp cho những người đến tuổi. Nếu chưa đủ phần thì đợi đến lần cấp ruộng sau sẽ nhận ruộng với bản xã.

– Đối với các dân xã nội vi tử, các quan trưng thu vâng lệnh làm việc theo diện tích phải phân chia nhiều hay ít:

+ Từ 600 mẫu trở lên thì sai bốn viên quan đến ở tại xã 20 ngày để làm việc chia ruộng.

+ Từ 300 mẫu trở lên thì sai ba viên quan đến ở tại xã 15 ngày để làm việc chia ruộng.

+ Từ 300 mẫu trở xuống thì sai hai viên quan đến ở tại xã 10 ngày để làm việc chia ruộng.

Số tiền và số gạo cấp cho các viên quan này trong thời gian làm việc chia ruộng tại làng, xã đều theo lệ cũ: mỗi mẫu 1 tiền cổ và 1 bát gạo được chia đều để dùng hàng ngày. Còn như tiền gạo tính theo số người cùng các sải vật, như trứng, cau, gà, vịt, cá và tôm đều bãi bỏ để người dân đỡ tốn kém.

– Những người được sai đến phân cấp, thì từ việc thừa hành đến nhật ký số tiền gạo theo số mẫu ruộng và các thể lệ cấm đều giống với các thể lệ vâng mạng cấp ruộng ở các dân xã nội vi tử. Sau khi cấp xong chỉ cho phép dân làng tạ rượu, thịt trị giá 10 quan tiền cổ.

– Về thể lệ quân cấp, trên từ quan viên, dưới đến những quan, quả, cô, dộc, đốc tật, tàn phế, tất cả đều nhằm một ý là cho được ái để nuôi sống.

– Đối với việc các quan được cấp ruộng, theo như chế độ cũ, những viên quan nào đã được cấp (tứ điền) ruộng ban rồi thì không được cấp nữa. Còn viên quan chưa được ruộng ban cho thì mới được cấp. Căn cứ vào chế độ cũ mà thi hành; nếu viên quan nào theo chức tước phẩm trật đã được cấp theo lộc và số ruộng được cấp để ăn lộc đều đình chỉ việc thêm ruộng. Còn viên quan nào chưa được cấp số xã được ăn lộc và số ruộng được cấp để ăn lộc thì căn cứ theo phẩm trật mà cấp cho đủ. Khi cấp ruộng phải căn cứ theo phẩm trật và tiêu chuẩn của từng cấp bậc hiện hành của người được cấp làm tiêu chuẩn. Người ở bậc cuối của những người có tiêu chuẩn, thì cấp phần ruộng nên tính từ bậc đó trở lên; hễ ai cao hơn một bậc thì thêm ruộng lên nửa phần, cứ tùy theo số phần xứng đáng với người được hưởng mà phân cấp. Những người có tiêu chuẩn ngang nhau thì cấp ruộng bằng nhau. Đối với những viên quan nhàn rỗi thì rút xuống hai phần để được công bằng.

– Người nào chưa có chức vụ và phẩm hàm thì cấp ruộng từ 8 phần rưỡi trở xuống… Các thuộc viên và binh lính dẫu có ngụ lộc điền rồi, cũng có thể cấp thêm, không liệt vào hạng phải định chỉ[9].

Phải nói rằng đây là một chính sách quân điền hoàn chỉnh và đầy đủ nhất sau quy chế quân điền thời Lê Thánh Tông. Đánh giá về chính sách này, sử gia Phan Huy Chú đã nhận xét: “Lệ cấp ruộng ở thời Vĩnh Thịnh đại khái tham dụng quy chế cũ của thời Lê sơ. Những phép ấy cũng đã được biến thông, cho nên xã nào có công điền mà không có lệ cấp thì vẫn được chia nhau theo tục lệ, chưa từng lấy phép công mà bắt buộc phải san đều”.[10]

Để bảo đảm việc thực hiện nghiêm túc chính sách của phủ chúa ban ra, các chúa Trịnh đã đặt ra các quan như Đại sứ, Phó sứ chuyên lo việc ruộng nương, đặt chức nông quan ở mỗi Trấn, huyện xem xét giữ việc ruộng nương, đôn đốc giúp đỡ nông dân làm ruộng. Xem xét ruộng đất khai khẩn hay bỏ hoang để lấy làm tiêu chuẩn thăng hay giáng các quan lại địa phương, sử dụng binh lính vào sản xuất nông nghiệp khi cần. Những chính sách này đã từng làm cho sản xuất nông nghiệp ổn định, có nhiều năm được mùa liên tiếp trên một vùng rộng lớn từ sông Hồng, sông Mã đến sông Lam. Cũng chính nhờ những chính sách ấy mà các nghề thủ công xuất hiện và phát triển mạnh, ở Đông Kinh có nhiều sản phẩm gốm, sứ, chạm khắc gỗ, hàng vải dệt bằng tơ, lụa,… Chính sách ruộng đất này của Chúa Trịnh không chỉ nhằm giải quyết cuộc sống của nông dân nghèo và tình trạng phân tán mà còn nhằm giải quyết những vấn đề về nghĩa vụ của người dân đối với đất nước – một chính sách nuôi dân để trị nước. “Chính sách nuôi dân không gì cần làm trước bằng việc quy định sản nghiệp, mà phép quy định sản nghiệp tất phải ở việc cấp đều ruộng đất. Vì rằng mối lo của người cầm quyền là ở chỗ không đều, nếu sản nghiệp của dân đều có thường thì dân còn lo gì không được no đủ… Dân có sản nghiệp thường đủ nuôi sống thì tự khắc nghề làm ruộng. Trồng dâu đều được thỏa, làng xóm đều được yên nghiệp mà công việc giáo dục, chấn hưng phong hóa đều có thể thi hành được cả”[11].

Quan điểm kinh tế và chế độ ruộng đất giai đoạn 1676 – 1729 của vua Lê – chúa Trịnh là một chính sách hoàn chỉnh và tiến bộ nhất từ trước tới nay. Chính sách này đáp ứng được mong mỏi của cung Vua – Phủ Chúa đương thời: “Kẻ giàu người nghèo đỡ đần được cho nhau”. Đây là một chuyển biến quan trọng, có ý nghĩa sâu sắc trong lịch sử kinh tế, tài chính của nhà nước Đại Việt đương thời và là những chuẩn mực cho các triều đại sau noi theo.

[1] Phan Huy Chú, Lịch Triều Hiến chương loại chí, Nxb KHXH, H.1992, T1-tv-209

[2] Đại việt sử ký toàn thư, Nxb. KHXH, H. 2004, T2 – tv-841

[3] Lê Triều chiếu lệnh thiện chính – Nguyễn Sĩ Giác dịch Vũ Văn Mẫu đề tự, Sài Gòn, 1961.

[4] Ngô Cao Lãnh, Lịch Triểu tạp kỷ, Nxb, KHXH, H.1975, T1 – tv- 187.

[5] Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb. KHXH, H.1992, T3 – tv- 67

[6] Chế lộc: số dân xã lị cấp cho quan võ để tùy theo số xã và số hộ xuất mà nộp tiền làm lương bổng hàng năm cho họ;

[7] Ngụ lộc: số dân xã lị cấp cho quan văn để hàng năm phải nộp tiền theo hộ xuất, làm lương bổng cho họ.

[8] Tự sự: số dân xã lị cấp cho quan Văn, Võ, tùy theo chức phẩm hàm hiện có của họ để cung phụng cho việc cúng tế họ

[9] Lịch triều tạp kỷ, tập 1.

[10] Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb. KHXH, H.1992, T2 – tv- 251.

[11] Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb. KHXH, H.1992, T2 – tv- 252, 253.

Share.

About Author

Leave A Reply