NHỮNG CỐNG HIẾN CỦA HOÀNG ĐÌNH ÁI VỚI VƯƠNG TRIỀU LÊ – TRỊNH THỜI LÊ TRUNG HƯNG

0

NHỮNG CỐNG HIẾN CỦA HOÀNG ĐÌNH ÁI VỚI VƯƠNG TRIỀU LÊ – TRỊNH THỜI LÊ TRUNG HƯNG

Hoàng Hải

Hoàng Đình Ái (1527 – 1607), người xã Biện Thượng, huyện Vĩnh Phúc, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Bồng Thượng, xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

Hoàng Đình Ái sinh năm Đinh Hợi (1527), đúng năm nhà Mạc dứt ngôi nhà Lê (Lê sơ), dựng nên triều Mạc. Bấy giờ có ông Nguyễn Kim, người Gia Miêu – Bái Trang, huyện Tống Sơn nay là xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, chức hữu vệ Điện tiền tướng quân, tước An Thanh Hầu, bí mật đem con em chạy sang Ai Lao để mưu đồ khôi phục nhà Lê. Năm Quý Tỵ (1533), Nguyễn Kim tìm được con nhỏ của Chiêu Tông là Duy Ninh lập làm vua nối nghiệp nhà Lê, niên hiệu Nguyên Hòa, tức vua Lê Trang Tông, Nguyễn Kim được tôn phong làm Thượng phụ Thái sư Hưng Quốc Công trưởng nội ngoại sự.

Từ đó Nguyễn Kim dương cao ngọn cờ “Phù Lê diệt Mạc” để khôi phục nhà Lê, nhưng không ngờ đến năm thứ 13, tức năm Ất Tỵ (1545), Nguyễn Kim mất đột ngột do tướng Mạc là Dương Chấp Nhất trá hàng đánh thuốc độc. Trước khi nhắm mắt, Thái sư Nguyễn Kim chỉ kịp trăng trối những điều tâm huyết với vua Lê Dụ Hoàng và tâu với vua người thay thế cầm quyền tiết chế là Trịnh Kiểm, con rể của Thái sư.

Có thể nói, đây là bước ngoặt lịch sử để họ Trịnh bước lên vũ đài chính trị, Trịnh Kiểm đã kế tục sự nghiệp của Nhạc phụ Nguyễn Kim, tiếp đến Trịnh Tùng đã hoàn thành công cuộc Trung Hưng nhà Lê, lập nên vương triều Lê – Trịnh, cùng vua Lê trị vì đất nước Đại Việt, giữ vững nền độc lập dân tộc trải dài 246 năm (1533 – 1789). Vị trí và vai trò đó của họ Trịnh đã được thực tế lịch sử minh chứng và thành câu nói bao đời nay trong nhân dân:

Trịnh tồn – Lê tại, Trịnh bại – Lê vong

Hay Lê tồn – Trịnh tại, Lê bại – Trịnh vong

Và khi nói đến công lao của Trịnh Kiểm, Trịnh Tùng trong công nghiệp gây dựng nền trung hưng nhà Lê không thể không nói đến Hoàng Đình Ái:

“Lê Trung hưng đệ nhất công thần

Trịnh Thế tổ, đồng thời tướng tá”

(Nghĩa là Hoàng Đình Ái công thần bậc nhất thời Lê Trung hưng, cùng là tướng tá thời thế tổ Thái vương Trịnh Kiểm và Triết vương Trịnh Tùng).

Trịnh Kiểm và Hoàng Đình Ái là con Cô, con Cậu (thân mẫu của Trịnh Kiểm – bà Hoàng Thị Dốc là chị gái của thân phụ Hoàng Đình Ái).

Trịnh Kiểm mồ côi cha từ nhỏ (6 tuổi), nhà nghèo, được nương nhờ nhà ông ngoại, hai anh em Trịnh Kiểm và Hoàng Đình Ái được ông ngoại và người cậu Hoàng Cửu tài ba hết lòng chăm sóc, nuôi dưỡng, rèn dạy, nhất là rèn luyện binh pháp, võ nghệ từ thủa thiếu thời, truyền thụ cho đạo đức, tư tưởng Nho giáo (trung quân ái quốc), hệ tư tưởng chính thống ở Đại Việt thời bấy giờ. Lớn lên hai anh em đều đến dưới cờ ‘Phù Lê” với câu thề sắt son còn lưu truyền trong dòng họ (tộc phả) cho đến hôm nay:

Trịnh, Hoàng nhị tộc

Cô cửu chi tử

Sinh đồng Hợi tuế

Phù Lê diệt Mạc

Hoạn nạn tương cứu

Phú quý hưởng đồng

(Nghĩa là: Hai họ Trịnh và Hoàng – Trịnh Kiểm và Hoàng Đình Ái – con cô, con cậu, cùng sinh năm Hợi, đồng lòng ‘phù Lê”, hoạn nạn cùng cứu, phú quý cùng hưởng).

Trịnh Kiểm và Hoàng Đình Ái tuy tuổi đời chênh nhau tới hai giáp nhưng từ mối quan hệ gia đình thân tộc từ nhỏ và sau này là quan hệ chúa – tôi, họ đã trở thành người bạn vong niên, người anh em gắn bó thân thiết trong suốt cuộc đời, hai người đã trung thành và thực hiện trọn vẹn câu thề. Họ đã không phụ lòng mong đợi và kỳ công rèn dạy của cha ông, từ tuổi thơ đến lúc trưởng thành, rèn luyện được tư chất, bản lĩnh và tầm nhìn chiến lược, kế tục và hoàn thành xuất sắc sự nghiệp trung hưng nhà Lê do Nguyễn Kim để lại và đã trở thành nhân vật lịch sử của nước Đại Việt thời Lê Trung hưng và được lưu truyền lại trong sử sách cho đến hôm nay và mai sau.

Đánh giá về Hoàng Đình Ái, nhà sử học Phan Huy Chú (1782 – 1840) đã chép trong Lịch triều hiến chương loại chí (tập I, tr.342): “Ông có học thức, thông binh pháp, cầm quân nghiêm chỉnh, trong thì giúp mưu mô, ngoài thì đi đánh dẹp, tự mình trải vài trăm trận đánh, đến đâu được đấy; làm cả tướng võ, tướng văn; không phân biệt thứ bậc, uy quyền, ưu đãi sĩ phu, giữ gìn pháp độ. Mọi người đều khen là giỏi”.

Với đánh giá nói trên, nói theo thuật ngữ ngày nay, ông là “tướng chiến lược”, đồng thời là “tướng tác chiến”; cao hơn nữa, cũng theo thuật ngữ ngày nay, ông làm cả Tư lệnh (tướng võ), làm cả Chính ủy (tướng Văn). Ông còn nổi lên là vị tướng đức độ, nhân nghĩa (không phân biệt thứ bậc, uy quyền, ưu đãi sĩ phu, giữ gìn pháp độ).

Để chứng minh cho những nhận định, đánh giá về công lao sự nghiệp, về những cống hiến cho công cuộc trung hưng nhà Lê đối với vương triều Lê – Trịnh của Hoàng Đình Ái, đã có nhiều sử sách và nhiều cuộc hội thảo nói đến ở nhiều góc độ, nhiều phạm vi rộng hẹp khác nhau, song với yêu cầu hội thảo, bài viết này chúng tôi xin được tóm lược tổng hợp khái quát và chỉ nói đến những thời điểm, những chỗ ngoặt lịch sử đã tỏa sáng nhân cách và bộc lộ tài trí dũng cảm, mưu lược kiệt xuất của Hoàng Đình Ái trong suốt cuộc đời cống hiến cho sự nghiệp “Phù Lê” của ông:

Năm Canh Ngọ (1570) lúc Thái sư Trịnh Kiểm vừa mất, con trưởng Trịnh Cối lên thay, anh em Trịnh Cối, Trịnh Tùng đánh nhau, tướng sĩ không hòa, nhân dân hoang mang. Nhân cơ hội đó, quân Mạc do Khiêm vương Mạc Kính Điển đem 10 vạn quân, chia làm 5 đạo với 700 chiến thuyền vào đánh Thanh Hoa, quyết diệt quân Lê, xóa Nam Triều. Thế quân Mạc mạnh như vũ bão tiến vào cửa Linh Trường, Chi Long, Hội Triều (Lạch Hới) hội quân tại Bút Cương (Bút Sơn ngày nay), doanh trại đóng liên tiếp hai bên bờ sông, khói lửa mịt mù, có đến 10 dặm, gây cảnh chết chóc, tiếng kêu vang trời… Trịnh Cối tự liệu không thể đương nổi, đã dẫn bộ tướng đem quân hàng Mạc, đưa sự nghiệp trung hưng rơi vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Trong lúc Biện Dinh thất thủ (tức Biện Thượng), Trịnh Cối đầu hàng, sự thể khẩn cấp, Mạc Kính Điển tự cho chỉ một tiếng trống là hạ được thành Yên Trường (cung vua).

Trước khi lâm chung, Thái sư Quốc công Trịnh Kiểm nhờ lời nguyện ước xưa, đã dặn dò Vinh Quốc công Hoàng Đình Ái: “Vì tình nhà nghĩa nước, chú hãy dốc lòng giúp đỡ các cháu, nhất là Tuấn Đức hầu Trịnh Cối, đã được vua Lê cho nắm giữ binh quyền”. Tuy nhiên, anh em Trịnh Cối, Trịnh Tùng đánh nhau đã đẩy ông chú Hoàng Đình Ái vào thế khó xử: không thể theo Trịnh Cối đánh Trịnh Tùng, mà cũng không thể giúp Trịnh Tùng đánh Trịnh Cối. Do đó, khi Trịnh Cối đã đầu hàng quân Mạc, Hoàng Đình Ái liền gọi các tướng Lê Khắc Thận, Nguyễn Hữu Liêu, Hùng Trà Hầu, Phạm Văn Khoái, Trịnh Vĩnh Thiệu, Trịnh Bách, Đặng Huấn, Lương quận công, Lạng quận công,… cấp tốc vào Yên Trường, yết kiến nhà vua và tôn Trịnh Tùng làm Đô tướng để chống Mạc, rồi ông cùng Đặng Huấn đem quân vào Ngọc Sơn (Tĩnh Gia – Thanh Hóa) và Nông Cống bình định được vùng này, đồng thời giữ vững được Kinh đô Yên Trường. Cuối cùng dưới sự lãnh đạo của Trịnh Tùng ông góp sức đổi thua thành thắng, đổi nguy ra yên.

Hoàng Đình Ái không chỉ đề xuất, bàn mưu tính kế khi đã là thành viên bộ tham mưu quân Lê, mà ở ông luôn tỏ ra có kiến thức hiểu biết sâu rộng về binh pháp, có tầm nhìn chiến lược, tầm nhìn khái quát, nên ông luôn chủ động dâng mưu hiến kế với vua Lê và Thái sư Trịnh Kiểm, cả kế sách quân sự và kế sách yên dân, giữ nước.

Hữu tướng Thái úy Hoàng Đình Ái không chỉ dâng kế sách chiến lược toàn cục, mà ông còn bàn mưu, tính kế cho từng chiến dịch, từng trận đánh, không chỉ dâng mưu, hiến kế mà còn là người “hành động”, có tài tổ chức để thực hiện thắng lợi những mưu kế ấy.

Nhìn lại 60 năm cầm quân đánh Mạc, lúc phối hợp, lúc độc lập, làm tiết chế cả quân thủy, quân bộ, trải biết bai trận đánh ác liệt nguy hiểm, Hoàng Đình Ái chưa thua trận nào, ngoại trừ trận Giao Thủy (Nam Định) năm Đinh Tỵ (1557) do Thái sư Trịnh Kiểm chỉ huy bị thất bại, nhưng Hoàng Đình Ái lại là người chỉ huy đội quân rút lui đi sau, chặn đánh quyết liệt quân Mạc đang đuổi theo quân Lê như thác lũ, bảo hệ hạn chế tổn thất cho đại quân rút lui an toàn.

Hữu tướng Hoàng Đình Ái đã trực tiếp cầm quân và tổ chức những chiến dịch, những trận đánh có tác động quyết định thay đổi tình thế chiến lược, tạo bước ngoặt về so sánh lực lượng để quân Lê mạnh dần lên, quân địch suy yếu, đi đến suy sụp cả thế và lực. Tiêu biểu như việc bàn lập mưu kế, rồi trực tiếp cầm quân đi bình định Châu Hóa, Thuận Quảng, Hoàng Đình Ái lại trấn thủ Thuận Hóa hơn một năm, thu phục được vùng đất rộng lớn cho “miền đất căn bản” kéo dài liên hoàn từ Thanh Hóa đến Thuận Quảng, có thế đứng vững chắc, có hậu cần, binh lương dồi dào. Từ đây, phía Nam không phải lo để tập trung tiến công phía bắc. Hay như trận đại thắng “Đường Nang” năm Tân Tỵ (1581) do Đại tướng Hoàng Đình Ái thống lĩnh đại quân, đánh cho Ứng vương Mạc Đôn Nhượng đại bại. Trận đánh nổi tiếng, chém hơn 600 thủ cấp giặc, đến nỗi từ đấy quân Mạc không dám dòm ngó phía Tây Nam nữa, hai xứ Thanh – Nghệ nhân dân được yên ổn làm ăn, lại tạo thế cho quân Lê chuyển từ giai đoạn cầm cự sang phản công. Hoặc trận quyết chiến chiến lược công phá kinh thành Thăng Long, Đại tướng Hoàng Đình Ái bắt sống danh tướng Mạc là Nguyễn Quyện ở Ly Kiều (trong thành) Triều Mạc bị diệt, khôi phục Thăng Long, Lê triều trung hưng.

Hoàng Đình Ái không chỉ là Đại tướng, mà nổi bật ở ông là một Nhân tướng. Ông đối xử với binh sĩ như tình phụ tử. Đánh bắt được quan lại, binh tướng của giặc hoặc giặc đầu hàng, ông nghiêm cấm việc đối xử tàn bạo hoặc chém giết trả thù. Ông chiêu nạp phủ dụ các quan lại cũ, binh tướng giặc muốn theo về Lê, còn ai không muốn, ông khuyên bảo không theo giặc và tha cho về quê làm ăn sinh sống với người thân. Vì thế nhân dân khắp vùng Bắc Triều đều gọi quân tướng của Hoàng Đình Ái là “đội quân nhân nghĩa” khi họ đến đánh đuổi giặc Mạc, giải phóng cho dân.

Học tập và noi gương các bậc danh nhân thời trước, Hoàng Đình Ái luôn nên cao ý tưởng “lấy đại nghĩa thắng hung tàn”, “lấy trí nhân thay cường bạo”. Trong nhiều trận đánh, ông đã dùng thư gọi hàng, bằng tài trí và tâm thành của mình, ông làm cho tướng giặc phải “tâm phục”, “khẩu phục”, chiến thắng không tốn giọt máu, mũi tên, hòn đạn, như việc thu phục tướng giặc Phạm Đức Trung, phó tướng của Hoàng Bôi chiếm cứ vùng Hải Lăng – Thuận Quảng, hay việc tha chết cho Vi Đạt Lễ, thổ quan Châu Lộc ở vùng núi Biên Cương. Biết tội làm phản và cảm ơn đức ấy, Đạt Lễ trở về. Từ đó, Châu Lộc yên ổn.

Đồng thời với đánh giặc, ông chú trọng đánh vào lòng người, thu phục nhân tâm, làm sáng rõ đạo lý. Đánh dẹp ở đâu, trấn thủ ở đâu, Lạng Sơn hay Kinh Bắc, ông luôn chú trọng bài học xây dựng “miền đất căn bản”, “lấy dân làm gốc”, “yên dân lạc nghiệp”, ngay đến miền đất Hải Đông (Hải Dương), huyện Kim Thành là nơi căn bản của họ Mạc, lòng dân không dễ gì theo về với Lê, nhưng khi Hoàng Đình Ái đến đánh dẹp xong, liền sai quan quân chiêu dụ nhân dân trở lại làm ăn, khuyến khích việc khai khẩn đất hoang, xin vua cấp thóc giống, miễn thuế 3 năm, mở mang học hành cho con trẻ..v..v.. Do đó, miền Hải Dương dần dần trở lại an cư lạc nghiệp. Cảm ơn đức ấy, nhân dân đã lập đền thờ ông. Đền thờ “Cảm Đức Đại Vương” Hoàng Đình Ái đã bao đời này ở Mạc xá, thuộc huyện Tứ Lộc, Hải Dương (nay là xã Quang Phục, huyện Tứ Kỳ, Hải Dương) vẫn được nhân dân thờ phụng.

Hoàng Đình Ái còn là người có công trong sách lược đối ngoại của nhà nước Đại Việt thời ấy, ông là người cầm quân làm sách ứng “Phò Vua” trong quan hệ bang giao với nhà Minh, mà việc đầu tiên về ngoại giao là đấu tranh buộc nhà Minh phải sách phong, công nhận vua Lê. Năm 1593, vương triều Lê trở lại Thăng Long, thực tế họ Mạc vẫn tồn tại bằng cách cầu cứu nhà Minh, cống nạp triều Minh (Trung Quốc) để nhà Minh ép buộc vua Lê phải cắt đất Cao Bình cho nhà Mạc, hy vọng khôi phục cơ đồ nhà Mạc. Nhà Minh biết nhà Mạc không thể sống lại, nhưng vẫn dùng họ Mạc để uy hiếp nhà Lê, tìm cách răn đe, nay đòi hội khám, mai đòi lễ cống. Đòi hội khám, nhưng nhà Minh cứ tìm cớ lần lữa không làm, với nhiều mưu mô khác.

Hội khám lần thứ nhất, nhà Minh âm mưu cố tình trì hoãn, kéo dài cho hết hạn kỳ hội khám, để vua quan nhà Lê không thể ăn chực nằm chờ một cách nguy hiểm ở cửa ải Nam Quan, tất phải đóng cửa ải mà về, lại thêm cớ vua Lê không cắt đất cho nhà Mạc, để hạch tội nhà Lê “coi thường mệnh trời”. Vua Minh còn xuống chiếu giao cho Bộ Binh, sức cho các Phủ, Châu, huyện tỉnh Quảng Tây, chuẩn bị binh mã, lương thảo để đánh dẹp nhà Lê.

Trước tình hình ấy, tiết chế Trịnh Tùng cùng với mưu thần Phùng Khắc Khoan, Hoàng Đình Ái, bàn với vua Lê là vẫn phải theo phương sách cổ truyền của các vị tiên đế Đại Việt, với sách lược mềm dẻo theo cái lễ “Nước nhỏ thờ nước lớn”, cốt sao được cái đích “cơ bản” là “thừa nhận nhà Lê, bải bỏ nhà Mạc”. Vua Lê sai viết công văn gửi thổ quan nhà Minh, lại đưa thư cho Tả Giang Đạo nhà Minh, để tâu lên vua Minh đại ý “Thanh minh” rằng. “Việc đóng cửa ải Nam Quan là để tàn quân Mạc cùng đường, không có lối chạy sang Trung Quốc quấy rối, là vì hạn kỳ hội khám đã hết; còn việc cắt đất cho họ Mạc thì chúng tôi không dám, vì cõi nước Nam do tiên dế đã ban cho tổ tiên chúng tôi, chứ chúng tôi không phải coi thường Thiên tử”.

Tháng 3 năm Đinh Dậu (1597) nhà Minh lại sai ủy quan Vương Kiến Lập mang điệp văn sang Nam Việt đòi lễ cống và hội khám. Lần này tiết chế Trịnh Tùng lại sai Hưu tướng Thái úy Hoàng Đình Ái (lúc này ông đã 70 tuổi) cùng Thái úy Nguyễn Hữu Liêu, Thái úy Nguyễn Hoàng mang các thuộc tướng với 5 vạn quân sĩ, binh tướng hộ giá vua Lê đến ải Nam Quan, để phòng khi mở cửa quan hội khám, quân nhà Minh tràn sang, giúp họ Mạc bắt vua, hiếp tướng. Hoàng Đình Ái xin với chúa Trịnh: “ Nhà Minh chuẩn bị chinh phục nước ta, có thể chỉ là diễu võ dương oai, khiến nước ta phải sợ, nhưng cũng có thể muốn thực hiện mưu đồ mà xưa kia tổ tiên họ bị thất bại, xin Tiết chế cho lệnh được tùy nghi đối phó”.

Tiết chế Trịnh Tùng liền trao cho Hoàng Đình Ái thanh gươm “An Quốc”.

Tại cửa ải Nam Quan, ủy quan Vương Kiến Lập và Trần Đôn Lâm nhà Minh cùng tàn quân họ Mạc trông thấy quân Lê đông đúc, binh tướng oai hùng, lẫm liệt, khí thế ngút trời, đã phải lẳng lặng từ bỏ những ý đồ xấu xa.

Cuộc hội khám được cử hành theo đúng nghi lễ, nhà Minh phải công nhận nhà Lê, phế truất nhà Mạc.

Vì vậy, ông được nhân dân ca ngợi như câu đối đề tặng Thái tể Hoàng Đình Ái:

Đặc địa anh hùng cao nhất thế

Kình thiên sự nghiệp Vĩnh Thiên Thu

(Đại ý: Người anh hùng nơi đất thiêng, công lao sự nghiệp to lớn tựa trời cao, mãi mãi ngàn thu).

Năm Đinh Mùi (1607) ông mất, thọ 81 tuổi. Trước khi qua đời chúa Trịnh Tùng thăm hỏi:

– Hữu tướng quốc một đời công lao dồn lại, to hơn núi Thái. Hữu Tướng có muốn được gia ơn chức tước gì cho con cháu?

Thái Tể trả lời:

– Người ta sinh ra ở đời, ai có bổn phận của người ấy, công lao nên tự lập, chức tước chớ lạm phong.

Sau khi ông mất, vua sai Hữu Thị Lang Bộ Lễ là Nguyễn Lễ soạn văn bia “Thần đạo” để ghi công. Văn bia có đoạn: “ Tướng công (Hoàng Đình Ái) là người có phong cách sống trong sáng, hòa nhã, bền bĩ, đúng chức phận, trong công việc giữ điều tín nghĩa, đem hết năng lực ra làm việc nước, có đức độ thu phục lòng người. Phúc hậu của tướng công, góp phần làm cho mạch của Nước (Đất nước) thêm trường thọ, phong thái và thể chất của tướng công ngưng tụ thành biểu tượng cao lớn. Trong triều đình, tướng công uy nghi như Thái Sơn Kiều Mộc”.

Vua ra chiếu chỉ cả nước để tang ông 5 ngày và Triều đình bãi trào 5 ngày, gia quyến được cấp tiền nghìn quan và lấy dân trong 10 xã làm lính hầu giữ mộ. Đánh giá vị trí, công lao của Hoàng Đình Ái, người đương thời ví ông như ‘Thái Sơn Kiều Mộc” và vua ban 4 chữ Đại Tự Thờ “ Kiều Mộc Thế Thần” (Cây lớn trên núi Thái, trụ cột vững chắc của triều đình).

Hiện nay ở xóm Đông, làng Bồng Thượng, xã Vĩnh Hùng, đền thờ ông (ở sát gần phủ Trịnh) đã được nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa. Trải qua các đời sau đều phong làm Phúc thần Thượng đẳng. Năm Gia Long thứ 1 (1802) ông được Triều Nguyễn liệt vào hàng công thần Trung Hưng bậc thứ nhất. Năm Minh Mạng thứ 4 (1824) cho thờ phụng ở miếu lịch Đại Đế Vương (Cố Đô Huế). Lịch sử cho thấy, không ít người tài giỏi, kể cả vua chúa, khi sống thì vinh hiển, cao sang, nhưng lúc chết là hết. Với Thái tể Hoàng Đình Ái gần năm trăm năm qua, ngoài quê hương dòng họ ở Thanh Hóa, ở Cố Đô Huế thờ phụng, còn nhiều nơi khác lập đền thờ, miếu thờ, hoặc được thờ theo ở trong Cung miếu, như các xứ Sơn Nam, Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương….Ngày nay ở Đà Nẵng, chính quyền Tp. Đà Nẵng đã quyết định đặt tên đường Hoàng Đình Ái cho một con đường ở Thành phố, như sự ghi nhận công lao của ông đối với đất nước.

Cuộc đời và sự nghiệp của Hoàng Đình Ái gắn liền với giai đoạn lịch sử đầy khó khăn trong buổi đầu khởi nghiệp Trung hưng Lê triều. Những cống hiến của Hoàng Đình Ái đã góp phần đáng kể và quan trọng đối với thắng lợi của công nghiệp trung hưng nhà Lê thế kỷ 16 – 17.

Share.

About Author

Leave A Reply