NHÀ TRỊNH VỚI VIỆC CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO VÀ TÔN VINH ANH HÙNG DÂN TỘC TẠI THĂNG LONG

0

NHÀ TRỊNH VỚI VIỆC CHẤN HƯNG PHẬT GIÁO VÀ TÔN VINH ANH HÙNG DÂN TỘC TẠI THĂNG LONG

Bình An vương Trịnh Tùng sau khi giải phóng kinh đô Đông Kinh – Thăng Long (1592), đã sớm có ý thức chấn hưng Phật giáo cùng các tầng lớp quý tộc và nhân dân hưng công xây dựng nhiều chùa, tháp, đình, đền. Chúa Trịnh cho tiến hành xây dựng các công trình kiến trúc, đền thờ thờ các anh hùng dân tộc, lập nên các vương triều có công với đất nước như:

– Năm 1602, Chúa Trịnh Tùng cho xây dựng lại đền thờ 08 vị vua triều Lý ở Bắc Ninh (đền Đô ngày nay), đền này có quy mô rộng lớn với đôi rồng lớn qua cửa rồng chạm khắc tinh tế, có tượng thờ, ngai, kiệu.

den do

– Năm 1607, Chúa Trịnh Tùng cho dựng đền vua Đinh, đền thờ được thiết kế đẹp, có chạm khắc rồng đá, long sàng đá, điêu khắc đẹp đẽ mẫu mực cho đến nay, sau đó cho xây dựng đền thờ vua Lê Hoàn ở cố đô Hoa Lư…

vua Dinh

– Tại Thăng Long chúa Trịnh Tùng cho tu sửa lớn, trước nguy cơ chùa Trấn Quốc (ngôi thờ cổ tên chữ là Khai Quốc) ngoài bãi giữa sông Hồng bị sạt lở, chúa Trịnh Tùng đã di chuyển ngôi chùa thiêng này vào trong đảo Kim Ngư (như ngày nay), đồng thời đắp con đê nhỏ “Cổ Ngư” đọc lệch là Kim Ngư (nay là đường Thanh niên), đồng thời chúa Trịnh Tùng và các chúa đời sau tu sửa lại chùa với kiến trúc hai tầng, nhiều tượng đẹp, uy nghi, nổi tiếng nhất là pho tượng Thích Ca nhập niết bàn nàm dài khoảng 1.70 m sơn son thiếp vàng.

tran quoc

– Chùa Long Khánh, Phía Nam Thăng Long là khu vực dinh Tuấn Nghĩa do Thái úy Dương Lễ Công Trịnh Đỗ (em ruột chúa Trịnh Tùng) cai quản, tại đây Thái úy Trịnh Đỗ đã cho xây dựng chùa Long Khánh năm 1604 với kiến trúc đẹp, nhiều kiến trúc còn giữ đến ngày nay. Làng Quỳnh Lôi hiện nay còn tượng cổ đẹp của vợ chồng Phù Lương Hầu Trịnh Tạc (Cường), chùa còn bia ca ngợi cảnh đẹp chùa của Mai Lĩnh Hầu Phùng Khắc Khoan.

– Chùa Sét ở Thịnh Liệt năm 1630 (giai đoạn chúa Trịnh Tráng trị vì) là một chùa lớn tráng lệ. Đặc biệt tam quan có 5 cửa cao hai tầng, tam bảo chùa tương tự chùa Đậu và có quan hệ mật thiết với chùa Dâu Bắc Ninh. Hiện ở chùa Dâu còn bia Đức Long 7 dựng năm 1635 (thời chúa Trịnh Tráng) nói rõ về sự tích chùa.

chùa set

– Chùa Nga Mi ở quận Hai Bà Trưng rộng lớn với Tháp Chuông 2 tầng kiểu tháp bút, được các chúa Trịnh rất quan tâm tu bổ.

nga mi

– Chùa Quảng Bá – Hồ Tây Hà Nội, tên chữ là Long Ân, do Vương phi Nguyễn Thị Ngọc Tú, vợ chúa Thanh vương Trịnh Tráng xây dựng. Chùa có nhiều tượng đẹp, đặc biệt có 03 pho tượng lớn của Hưng Quốc Công Nguyễn Kim (nhạc phụ Minh khang thái vương Trịnh Kiểm); Đoan Nam vương Nguyễn Hoàng (em vợ Thái vương Trịnh Kiểm, bố của Vương phi Nguyễn Thị Ngọc Tú) và tượng vương phi Nguyễn Thị Ngọc Tú được thờ tại đây. (Nhà Trịnh luôn nhớ công ơn của Hưng Quốc công Nguyễn Kim, ngoại tổ phụ của Nhà Trịnh).

Qungr ba

– Chùa Hàm Long được xây dựng ở cuối thế kỷ XVII – đầu thế kỷ XVIII (thời chúa Trịnh Cương trị vì), do bà Thái phi Trương Thị Ngọc Chủ (mẹ chúa Trịnh Cương) xây dựng, mở rộng. Chùa có nhiều tượng đẹp, to lớn (đầu thế kỷ XXI đã phát hiện ra bệ đá tượng Phật tạc hoa sen khoảng 4m2 đá nguyên khối trạm khắc tinh sảo, việc xây dựng chùa trong vòng 12 năm. Hiện nay còn lại hai tấm bia cổ, cao khoảng 2m dựng năm 1714 “Hàm Long Tự bi ký” chạm khắc mỹ lệ do 02 nhà văn hóa nổi tiếng là cụ Đặng Đình Tướng và cụ Nguyễn Quý Đức, nội dung ghi lại việc xây chùa từ 1702 – 1713.

– Thời chúa Trịnh Cương còn cho đúc 02 tượng đồng thánh Trấn Vũ (khoảng 4 tấn đồng, cao 4 m) tại đền Quán Thánh và đền Cự Linh (Gia Lâm). Thể hiện hình ảnh vị thánh tay bắt quyền, tay chống kiếm trên lưng rùa. Điều đặc biệt là bên cạnh tượng thờ thần, các chúa cho đúc tượng nhỏ thờ người thợ có công thiết kế và làm tượng ngay tại đền, một điều đặc biệt thể hiện sự tôn trọng nhân tài của chúa Trịnh Cương.

tran vu

– Chùa Côn Sơn (Sùng Phúc Tự), nơi tu của Sư Huyền Quan, tổ thứ ba thiền phái Trúc Lâm thời Trần, bị đổ nát. Năm 1604, chúa Trịnh Tùng cho các thân vương góp công, của xây lại chùa, theo đó liên tục trong nhiều năm từ 1604, 1607, 1615 (thời chúa Trịnh Tùng trị vì), các thân vương họ Trịnh là Cung tần Lê Thị Ngọc Chu, Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Liễu, Thái úy Trịnh Đô Thương cung tiến cùng dân xã Chi Ngại góp công xây dựng lại Tam Quan, nhà Oản, tu sửa hành lang hai bên Thượng Điện, Thiêu hương, làm lại nhà Tiền đường, tạo dựng tháp quay cửu phẩm liên hoa cùng các tượng ở Phật điện…. Với khối lượng kiến trúc, tạo tượng đồ sộ gồm 83 gian kiến trúc, 385 pho tượng (làm mới các tượng Quan âm nghìn mắt nghìn tay, hai tượng hộ pháp, bộ tượng tam thế, ba pho tượng cô hồn, 1 pho tượng Sơn thần, trùng tu 18 pho tượng ở Thượng điện). Chúa Trịnh Tùng còn ra sắc chỉ cho quan viên xã Chi Ngại được làm dân tạo lệ thờ cúng, miễn trừ phu, thuế để trông nom chùa và phụng thờ như cũ.

con son

– Đền Hùng Vĩnh Phúc, các chúa Trịnh đã tu sửa và xây dựng mở rộng tại khu đền thờ đất tổ Hùng vương với quy mô rộng hoành tráng. Ngày nay, chỉ còn lại dấu tích đền Hạ kiến trúc chữ Nhị gồm hai tòa tiền bái và hậu cung. Tam quan gác chuông hai mái, các mái đao cong cao vút, mang đặc trưng kiến trúc thời Lê – Trịnh dài khoảng 10m rộng 7m.

den Ha

– Khu vực chùa Hương tích (Hà Tây), năm 1680, chúa Trịnh Căn cho Phạm Viên, con Hoàng giáp Phạm Chất, vào khu vực Hương tích xây dựng. Trong suốt hơn 1 thế kỷ chùa Hương thành danh lam thắng cảnh của Việt Nam. Năm 1770, Tĩnh vương Trịnh Sâm đã đặt bút viết năm chữ “Nam thiên đệ nhất động” cho khắc vào cửa động Hương Sơn, nơi có lối “lên trời” và đường xuống “âm phủ” trở thành dấu tích lịch sử.

chua huong

– Chùa Sùng Phúc, núi Tây Thiên (Hà Tây), theo bia Tây Phương Sùng Phúc tự bi “ngày 22 tháng 11 năm Nhâm Thân (1632 – dưới thời chúa Trịnh Tráng trị vì – Đại việt quốc Sơn Tây trấn Quốc Oai phủ), trùng tu chùa Sùng Phúc núi Tây Phương, dựng Thượng điện 3 gian, Hậu đường và hành lang 22 gian… Ngày 2 tháng 2 năm Ất Hợi (1635) đặt lễ hội lễ an tượng khai quang Điểm Nhỡn… Nguyên soái tổng quốc chính sư phụ Thanh Vương”. Có nghĩa chúa Trịnh Tráng đã cho xây dựng, tạc tượng trong 3 năm và làm lễ an tượng Điểm Nhỡn. Đến đời chúa Tây vương Trịnh Tạc cho đúc chuông, xây tam quan đặt tên là chùa Tây Phương. Từ năm 1735-1740, chúa Trịnh Giang cho tu sửa quy mô nhiều chùa, trong đó có chùa Tây Phương. Sử gia Phan Huy Ích đã viết ba lần về lịch sử chùa Tây Phương: 1788 – 1798 lời chú như sau: ‘Còn tượng phật chùa chiền dựng trên núi là khoảng những năm Vĩnh Hựu 1735- 1740, Thuận vương Trịnh Giang ủy cho viên trung sứ đến xây…”. Chúa sai Trung sứ xây dựng thiện viện to lớn, điêu khắc tượng pháp, chế tác pháp âm vang bên tai”… Thậm chí đến năm 1809 ông còn ghi lại “Chúa Trịnh Giang từng sai sửa chùa và tạc mười pho tượng cực kỳ khéo léo. Chùa Tây Phương là một kiệt tác kiến trúc mang dáng dấp cung đình”. .. “các đầu đao mái chùa đều được làm bằng đất nung, nhiều tác phẩm điêu khắc dân tộc đặc sắc. Đặc biệt có hơn 70 pho tượng sơn sơn thiếp vàng, trong đó có nhiều pho tượng nổi tiếng như 8 vị Kim Cương, tượng Tuyết Sơn, tượng La Hán 18 vị, đó là những tác phẩm điêu khắc mẫu mực diễn tả sống động”.

sung phuc

– Chùa Phật tích (Bắc Ninh), một ngôi chùa nổi tiếng thời Lý bị đổ nát, chúa Trịnh Tráng cho tu sửa lại theo kiểu “Trăm gian”, đã bị đốt thời chống Pháp. Trước đây Thiền sư Quyết Quyết và Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc, con gái chúa Trịnh Tráng, vợ vua Lê, đã thụ pháp tại đây. Nay vẫn còn tượng thờ Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc.

Phat tich

– Chùa Đậu (Chùa Pháp Vũ) ở thôn Gia Phúc, Thường Tín, có từ thời Lý, đến thời Trần hiện còn thềm đá và rồng đá… Năm 1635, thời chúa Trịnh Tráng trị vì, ông cho vợ đến tu sửa mở rộng, kiến trúc Tam quan, gác chuông hai tầng, tám mái, tầng lan can, trạm trổ rồng, phượng, hoa lá… nơi đây có hai Thiền sư Vũ Khắc Minh, Vũ Khắc Trường tu thành chính quả, khi mất ngồi trong tư thế thiền định….

chua đậu

Chùa Pháp Vũ được các chúa Trịnh quan tâm đặc biệt, chúa Trịnh Căn thường đến thăm, đến chắt là chúa Trịnh Cương đến thăm chùa và cả hai chúa để lại hai bài thơ nôm ca ngợi chùa được khắc vào 02 tấm biển gỗ sơn son thiếp vàng.

– Chùa Bút Tháp, được chúa Trịnh Tráng xây dựng từ năm 1639 – 1644, điều đặc biệt là giai đoạn này có người họ hàng của Hiền phi Trương Thị Ngọc Lãnh (vợ chúa Trịnh Tráng) tên là Trương Thọ là nghệ nhân giỏi, đã được chúa mời về tạc tượng Quan âm nghìn tay nghìn mắt, một tác phẩm nghệ thuật đỉnh cao đến ngày nay…

– Chúa Trịnh Tráng cho xây dựng chùa Phúc Long năm 1648.

Phuc Long

– Chùa Tĩnh Lự (trên núi Thiên Thai Bắc Ninh), được Chúa Trịnh Tráng giao Gia Quận công xây dựng năm 1648, những người tham gia công đức xây dựng chùa có cả Hoàng tử Lê Duy Kỳ, Thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc, Tây Quốc công Trịnh Tạc.

– Chùa Mía (Sùng Nghiêm Tự) ở Đường Lâm, Sơn Tây, do bà Cung phi Nguyễn Thị Ngọc Giao, vợ chúa Trịnh Tráng xây dựng năm 1632 đến 1634 với kiến trúc to lớn, quy mô khang trang gồm Thượng điện, Thiêu hương, Tiền đường, hậu đường, hai bên tả hữu hành lang (27 gian). Chùa Mía có khoảng 300 pho tượng lớn nhỏ rất đẹp, nhiều tượng nổi tiếng còn nguyên vẹn đến ngày nay. Đặc biệt là tượng chân dung bà chúa Mía đặt trong khám thờ rất mỹ lệ, mặt hoa da phấn, trang phục quý tộc ngồi thiền theo lối tả thực chân dung rất sinh động.

chua Mia

– Chùa Bảo Tháp, xã Kim Thao (Bắc Ninh), do vợ chúa Trịnh Tùng là bà Lương Thị Ngọc Minh xuất gia xây dựng.

– Chúa Trịnh Tráng hạ lệnh chỉ mở rộng và tu bổ đền thờ Hoàng đế Lê Hoàn (năm 1626), tại đền còn có tấm bia đá lớn “Sáng lập Lê Đại Hành Hoàng đế điện miếu bi minh tự”. Đền thờ hiện còn bảo tồn, ở gian giữa trạm đầu hai còn rồng lớn chầu tại, bám vào sung quanh là rồng nhỡ, rồng nhỏ bám vào vây, vẩy rộng mẹ của 3 thế hệ hướng về phía trước, tạo hình hai ổ rồng hòa hợp thanh bình.

-Năm Vĩnh Thịnh thứ XV (1719), chúa Trịnh Cương sức cho dân ba huyện Gia Định, Lương Tài, Quế Dương trùng tu chùa Phúc Long. Làm xong chùa, chúa miễn thuế một năm cho ba huyện ấy. Chùa Phúc Long ở về làng Lãng Ngâm, huyện Gia Định (Gia Bình) do chúa Trịnh Tráng dựng từ năm Phúc Thái thứ VI (1646).

-Năm Bảo Thái thứ VIII (1727), chúa Trịnh Cương sai nội giám lập chùa Thiên Tây (ở làng Sơn Bình, huyện Tam Dương, về địa phận núi Tam Đảo) và chùa Độc Tôn (ở làng Cát Nê, huyện Phổ An, tỉnh Thái Nguyên) để khi chính sự rảnh rỗi chúa ra nghỉ tại đó.

THIEN TAY

-Năm Vĩnh Khánh thứ II (1730), chúa Trịnh Giang sức dân ba huyện Đông Triều, Thủy Đường, và Chí Linh trùng tu chùa Quỳnh Lâm và chùa Sùng Nghiêm.

-Năm Vĩnh Hựu thứ III (1731), chúa Trịnh Giang dựng tượng Phật lớn để thờ ở chùa Quỳnh Lâm, sắc cho các quan thay phiên đến làm lễ. Cũng trong khoảng niên hiệu Vĩnh Hựu thứ V (1735-1739), ngài Trạm Công vâng sắc vua qua nước Đại Minh, tham yết hòa thượng Kim Quang, tu ở non Đỉnh Hồ, thỉnh được nhiều kinh điển đem về để tại chùa Càn An.

quanh lam tu

– Năm 1738, chúa Trịnh Giang cho sửa chùa Dâu (Duyên Ứng Tự), xây lại ngôi tháp Hòa Phong chín tầng bằng gạch hình vuông. Hiện còn lại 3 tầng với tấm biển đá Hòa Phong Tháp.

– Chúa Trịnh Giang cho xây chùa Bảo Lâm ở phía Tây Phủ chúa, đến thời chúa Trịnh Sâm cho di chuyển lên Nghi Tàm, do quận thiều Phạm Huy Đĩnh và Tuân sinh hầu Nguyễn Khắc Tuân trông coi việc trùng tu, được chúa Trịnh Sâm đặt tên mới là chùa Kim Liên.

Chùa Kim Liên, có bộ tam thế, tượng kim cương, Quan âm thiên phủ nổi tiếng cùng với tượng chùa Tây Phương, hiện nay tại chùa còn có tượng Chúa Uy vương Trịnh Giang, tượng Tĩnh vương Trịnh Sâm.

chua kim lien

– Chùa Liên Phái, là một ngôi chùa ở thủ đô Hà NộiViệt Nam. Chùa nằm trong ngõ Liên Phái, phố Bạch Mai, thuộc quận Hai Bà Trưng. Liên Phái là tên của chùa từ năm 1840, trước đó chùa có tên là Liên Hoa rồi Liên Tông.

Chùa Liên Hoa được dựng lên sau khi ông hoàng Trịnh Thập (có tài liệu ghi là Trịnh Hợp) (sinh năm 1696, mất năm 1733) con Tấn Quang Vương Trịnh Bính, là cháu nội Chúa Trịnh Căn và là Phò mã vua Lê Hy Tông (Trịnh Thập lấy người công chúa thứ 4) phát hiện một ngó sen sau khi đào đất ở gò cao sau phủ (phường Hồng Mai, sau đổi tên thành Bạch Mai)) để xây bể cạn. Trịnh Thập cho rằng đây là dấu hiệu của Phật và tin rằng mình có duyên với đạo. Vì vậy, Trịnh Thập quyết định chuyển phủ của mình thành chùa Liên Hoa, đồng thời theo đạo Phật, trở thành Lân Giác Thượng Sĩ trụ trì trong chính ngôi chùa này. Theo tấm bia đá khắc năm Tự Đức thứ 10 (1857) hiện còn ở chùa, chùa được xây dựng vào năm Bảo Thái thứ 7 (tức 1726). Năm 1733, Trịnh Thập (lúc đó mới 37 tuổi) mất và được chôn cất trong Tháp Cứu Sinh xây ở chính nơi tìm thấy ngó sen. Sau đó, chùa được đổi tên thành chùa Liên Tông. Đến năm 1840, chùa được đổi tên thành Liên Phái như hiện nay vì kiêng huý vua Thiệu Trị.

chua Lien Phai

-Năm Cảnh Hưng thứ XXXII (1771), chúa Trịnh Sâm –sau khi dẹp yên giặc ở xứ Bắc, lấy đất Thuận Hóa và đất Quảng Nam của chúa Nguyễn –dựng chùa Tiên Tích ở ngoài cửa Đại Hưng (thuộc làng Nam Ngự, huyện Thọ Xương, Hà Nội, nay là phố Hàng Lọng

CHùa Mụa

Chùa Mụa dựng vào thế kỷ thứ 17, trùng tu vào thời Nguyễn, kiến trúc kiểu chữ “Nhị”. Cổng Tam quan khá đồ sộ, có hai hàng câu đối:

Tài sắc song toàn nơi phủ chúa

Nghĩa tình trọn vẹn với quê hương

Cạnh đó có tòa thư điện nhỏ đặt pho tượng phỗng tạc đá xanh, dáng dấp bụng phệ được thờ bằng bát hương cũng bằng đá xanh chạm chân quỳ, có 3 tai mặt hổ phù. Trước cửa đền đặt tấm bia dựng năm 1634 có ghi: Bà chúa Mụa Trịnh Thị Ngọc Am đệ nhất cung tần vương phủ chúa Trịnh Tráng. Tấm bia thứ hai dựng năm 1650 ghi nhận công lao của bà với dân làng trong việc dựng chùa, đình, đền miếu…

Tại gian trung tâm tòa đại bái có nhang án bằng đá, chạm khắc nổi thành ba bức phù điêu: bức giữa chạm nổi hình trong, hai bên chạm “Long cuồn thủy”, xung quanh chạm hoa văn sóng nước cách điệu, mang phong cách Hậu Lê. Trên hai cột cái tòa đại bái có hai hàng câu đối ca ngợi tài đức của Bà:

Tài cao nghĩa trọng, uy thế trấn sơn hà

Tích đức tu nhân, chúa cung sùng đạo Phật

Gian hậu cung đặt tượng bà chúa Mụa. Năm 1634, chúa Trịnh Tráng cho tạc tượng bà bằng đá khi đang sống. Tượng to bằng người thật ngồi trên tòa sen, đầu đội vương miện, chạm nổi hình Phật Tổ Như Lai, tai đeo bông hoa to, chân xếp bằng kiểu người ngồi thiền.

Phía trước tượng bà chúa là tượng Quận Công bằng đá, ngồi xếp bằng tròn, mặc áo bào. Hai tòa hai bên thờ tượng Thị Vệ và Kim Đồng chầu bà chúa, thân chạm nổi áo gấp. Sau hậu cung là tòa Cửu phẩm liên hoa, đặt nậm đá đế hoa sen, dưới chạm tượng bà chúa lúc về già.

 

Share.

About Author

Leave A Reply