LÃO THÀNH CÁCH MẠNG TRỊNH ĐÌNH CHÍ (1909 – 1956) TẤM GƯƠNG YÊU NƯỚC CỦA NGƯỜI HỌ TRỊNH

0

LÃO THÀNH CÁCH MẠNG TRỊNH ĐÌNH CHÍ (1909 – 1956) TẤM GƯƠNG YÊU NƯỚC CỦA NGƯỜI HỌ TRỊNH

          Ông Trịnh Đình Chí có bí danh (Tam, Tu) nhân dân thường gọi là ông giáo Chí. Ông sinh ngày 04/6/1909 trong một gia đình nông dân ở làng Ninh Thôn – Xã Hà Ninh – Huyện Hà Trung – Tỉnh Thanh Hóa; là con út trong gia đình có 5 chị em (hai chị và hai anh). Cha mẹ ông có nghề làm ruộng, thuộc thành phần trang nông, quê chính của ông bà ở làng Biện Thượng (Làng Báo) nay là Bồng Thượng – Xã Vĩnh Hùng – Huyện Vĩnh Lộc, nơi có Phủ Chúa Trịnh thời Lê Tùng Hưng, là hậu duệ Chúa Yến Đô Vương Trịnh Bồng, chúa cuối cùng của Nhà Trịnh. Hàng năm con cháu vẫn về làng Biện Thượng làm giỗ tổ vào ngày 10 tháng giêng và 18 tháng hai âm lịch, là cành họ duy nhất được làm giỗ ở ngay trong Phủ Trịnh.ong trinh dinh chi

Ông Trịnh Đình Chí

(khi gia nhập Tân Việt Cách mạng Đảng – 1927, tổ chức tiền thân của Đảng Cộng Sản hiện nay)

          Với truyền thống yêu nước ý chí cách mạng tiến công của dòng họ và truyền thống văn hóa của quê hương, đất nước nơi địa linh nhân kiệt.v.v… Cha mẹ ông đã sớm nhận thức được quy luật vận động và phát triển của nhân loại, nhu cầu tất yếu khách quan của việc học tập, hiểu biết văn hóa, khoa học kỹ thuật.v.v.. nên ông bà đã sớm cho cả ba người con trai đi học ngay từ đầu thế kỷ 20, hai người anh được vào học trường Tỉnh cách nhà hơn 30km, ông Trịnh Đình Chí được cha mẹ cho học tại trường huyện vì kinh tế gia đình có khó khăn. Tuy chỉ học trường huyện, nhưng với tố chất thông minh, có nghị lực và giàu lòng nhân ái nên từ khi còn nhỏ, ông Trịnh Đình Chí đã sớm nhận biết được ý nghĩa và nhu cầu khách quan của học tập, thấy được nỗi thống khổ, sự lam lũ thường ngày của cha mẹ phải làm lụng cực nhọc, lao động kiếm sống và trực tiếp chứng kiến bao sự áp bức bất công của chế độ phong kiến đế quốc. v.v…

Vì vậy năm 1925 khi được cha mẹ cho vào trường Pháp Việt ở huyện để học, ông đã dồn hết tâm sức tập trung tất cả cho học tập, nhanh chóng nắm vững kiến thức cơ bản của nhà trường, ông thạo tiếng Pháp, biết tiếng Nhật và sau này biết tiếng Trung Quốc.

Được các thầy giáo: Phạm Tiến Năng và Lê Hữu Thiềm, là những giáo viên có tư tưởng cách mạng tiến bộ ở trường quan tâm, các thầy thường kết hợp vừa dạy học vừa tuyên truyền về lòng yêu nước, tư tưởng cách mạng, tiến bộ của ông Phan Bội Châu và ông Phan Chu Trinh và nói về ý nghĩa thắng lợi của cách mạng tháng mười Nga năm 1917, về nguyên nhân của đại chiến thế giới và những âm mưu thủ đoạn khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đối với nước ta. Đồng thời khi ở nhà, ông Trịnh Đình Chí còn được người bác ruột là Trịnh Đình Khoa, là nghĩa quân tham gia khởi nghĩa Ba Đình, Nga Sơn cuối thế kỷ 19 đã thường xuyên kể chuyện về mục tiêu ý nghĩa của cuộc khởi nghĩa, gương chiến đấu dũng cảm, và sự hưởng ứng phong trào cách mạng của nhân dân ta. Cùng với sự dạy dỗ chỉ bảo hàng ngày của cha mẹ về đạo đức, tính trung thực, thẳng thắn, sự kính trên, nhường dưới, lòng hiếu thảo thương người và những áp bức bóc lột sự bất công của thực dân phong kiến. Vì vậy năm 1928 ông Trịnh Đình Chí đã xin gia nhập tổ chức Tân Việt Cách mạng Đảng (tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay) cùng với một số thầy giáo và học sinh trong trường Pháp Việt huyện. Đây là tổ chức Đảng Tân Việt cách mạng đầu tiên ở phía Bắc tỉnh Thanh Hóa, do Đảng Tân Việt Cách mạng tỉnh Thanh Hóa chỉ đạo tổ chức thành lập.

Sau khi vào Đảng Tân Việt cách mạng ở trường; ông Trịnh Đình Chí có nhiều thuận lợi hơn để học tập tìm hiểu về chủ nghĩa cộng sản, sự hoạt động của chi bộ Đảng Tân Việt cách mạng ở huyện Hà Trung nói riêng và tỉnh Thanh Hóa nói chung đã đáp ứng được cơ bản sự mong mỏi chờ đợi của dân chúng nên đã nhanh chóng ảnh hưởng, phát triển sâu rộng lan tỏa trong nhân dân, khiến cho đế quốc Pháp và chính quyền phong kiến hoảng sợ, tìm cách đối phó, tổ chức các lực lượng lùng sục khủng bố tàn sát.v.v…Đầu năm 1929 một số thầy giáo tham gia Đảng Tân Việt cách mạng bị lộ và bị địch bắt ở ngay tại trường, tổ chức Đảng bị lộ và hoạt động của chi bộ Đảng Tân Việt cách mạng trong huyện Hà Trung phải tạm ngừng.

18197854_418431051848166_1157282394_n

          Do hoàn cảnh kinh tế gia đình ngày càng khó khăn, cha mẹ già yếu, bệnh tật. Vì vậy đầu năm 1930 ông Trịnh Đình Chí phải đi dạy học, phụ giúp kinh tế với cha mẹ, thời kỳ đầu ông được dạy học ở huyện Như Xuân, cách nhà hơn 100km, phương tiện giao thông đến vùng núi Tây Nam của tỉnh Thanh Hóa lúc này vô cùng khó khăn, tất cả đều chờ vào đôi chân và cây gậy chống. Sau đó ông được chuyển về dạy học ở xã Hoằng Đạo, và làng Hồng Văn xã Hoằng Thái huyện Hoằng Hóa hiện nay.

          Trong quá trình đi dạy học ở Như Xuân và Hoằng Hóa bị đứt liên lạc với tổ chức Tân Việt cách mạng Đảng, nhưng ở cả hai nơi dạy học trong gần mười năm, ông luôn có nhiều cử chỉ hành động cách mạng đấu tranh chống áp bức bất công, bằng lòng nhân ái, hướng thiện và tình thương đồng loại, thương người cùng khổ. Khi ở huyện Như Xuân ông trực tiếp đấu tranh với Tri Châu, Quách Văn Tròn vì tội ăn chặn tiền lương dạy học của giáo viên, ức hiếp người dân. Ở Hoằng Hóa, ông kiện đại hào Lê Văn Hoán vì tội cường hào hống hách. Kết quả Tri Châu, Quách Văn Tròn bị phạt và phải trả đủ tiền lương hàng tháng cho giáo viên, đại hào Lê Văn Hoán phải ra tòa lãnh án 5 năm từ. Năm 1939 ông Trịnh Đình Chí được chuyển về huyện nhà dạy học, lớp học được đặt ở làng Thạch Lễ, xã Hà Lai, huyện Hà Trung ở cách nhà ông hơn 10km. Trong hoàn cảnh rất khó khăn, vợ ông bị bệnh hiểm nghèo vừa bị mất, để lại cho ông đứa con trai chưa đầy tháng tuổi. Nhưng với ý chí quyết tâm và kinh nghiệm thực tế, ông đã nhanh chóng làm chủ công việc, chủ động tìm hiểu nắm chắc tình hình học sinh tìm ra cách truyền đạt thích hợp gây hứng thú ham học cho các tầng lớp học sinh, đồng thời ông đã bắt liên lạc được với tổ chức Đảng cộng sản Đông Dương ở huyện nhà thông qua một số bạn đồng nghiệp.

Cuối năm 1940 được người bạn đang dạy học ở làng Nga Châu là Hoàng Cao Thân quê ở làng Bình Lâm giới thiệu và được ông Nhiêu (tức Đỗ Trung) Tỉnh ủy viên tỉnh Thanh Hóa trực tiếp tổ chức lễ kết nạp ông Trịnh Đình Chí vào Đảng cộng sản Đông Dương ngay tại nhà ông cựu Kỳ (Nguyễn Kỳ) ở làng Mậu Yên, xã Hà Lai ngày 20 tháng 11 năm 1940. Cũng chính tại nơi đây cuối tháng 10/1940 Tỉnh ủy Thanh Hóa cũng đã tổ chức kết nạp 4 người vào Đảng, đó là ông Nguyễn Kỳ, Hoàng Cao Thân, Đường Văn Thông, Nguyễn Văn Đớn.

Được vào ĐCS Đông Dương là thỏa nguyện ước mơ suốt 10 năm bị đứt liên lạc và cũng là ý nguyện từ khi vào Đảng cách mạng Tân Việt của ông năm 1928, vì vậy ông Trịnh Đình Chí rất phấn khởi, tích cực tập trung dạy học và tham gia các hoạt động bí mật của Đảng giao: vừa tuyên truyền về mục tiêu lý tưởng cách mạng của Đảng thông qua các bài giảng ở trường cho học sinh và tuyên truyền với những người thân quen trong gia đình, làng xóm.

Tháng 1/1941 ông được tham gia vào tổ chức phản đế cứu quốc và được bổ sung vào phủ ủy và được giao nhiệm vụ tuyên truyền giác ngộ cách mạng, phát triển lực lượng xây dựng tổ chức, mở rộng phạm vi địa bàn hoạt động của Đảng trong huyện.

18197196_418431105181494_1730122349_n

Tháng 5/1941 ông Trịnh Đình Chí đã giác ngộ vận động được ông Trịnh Đình Giảng và Nguyễn Đình Xum người trong làng và mời ông Nhiêu (tức Đỗ Trung) về Hà Trung làm lễ kết nạp ông Trịnh Đình Giảng và Nguyễn Đình Xum  vào Đảng, lễ kết nạp được tổ chức ở ngay tại nhà ông Trịnh Đình Giảng là nhà anh ruột của ông Trịnh Đình Chí ở làng Ninh Thôn  xã Hà Ninh hiện nay.

Từ tháng 6/1941 ông đi tuyên truyền và giới thiệu kết nạp Đảng viên tại 6 cơ sở – các thôn trong huyện và khu vực như ở làng Phú Thọ, xã Hà Lai, làng Cẩm Bối xã Hoạt Giang, làng Điền Lư xã Tống Giang và một số cơ sở ở làng Tứ thôn (nay là làng Mỹ Thành xã Ba Đình, huyện Nga Sơn) kết nạp 3 người vào Đảng đó là: ông Bản Huấn, ông Lộc và ông bửu Tập, trong đó ông Bản Huấn là anh rể cả lấy người chị cả của vợ ông Trịnh Đình Chí, mặt khác ông cũng đã tuyên truyền, chuẩn  bị lực lượng thành lập được ban Tổng ủy Tổng Ngọ xá.

Thời gian này, nhà ông Trịnh Đình Chí là một trong số các địa điểm hội họp gặp gỡ bí mật của cán bộ Tỉnh ủy Thanh Hóa để chỉ đạo xây dựng chiến khu Ngọc Trạo và xây dựng trại huấn luyện du kích tại Nam Núi Cống Chiêng của làng Ninh Thôn, xã Hà Ninh, nhằm tập hợp huấn luyện du kích, cung cấp lực lượng lên chiến khu Ngọc Trạo Thạch Thành. Nhà ông Trịnh Đình Chí và bà Nguyễn Thị Diệu cũng là điểm dừng chân trong đường dây đi lại, chỉ đạo gây dựng phong trào cách mạng ở huyện Hà Trung và Nga Sơn của tỉnh ủy Thanh Hóa (ông Đặng Châu Tuệ, Đặng Hỷ, Lê Tất Đắc, Trịnh Hữu Thường, ông Nhiêu (Đỗ Trung), ông Phác, bà Thái, bà Trần Thị Nhị, bà Nguyễn Thị Lợi…), mỗi người đều đã qua lại ít nhất một lần, 1 số người qua lại, ăn nghỉ 5 đến 10 lần trong 6 năm từ 1940 ¸ 1945. Như ông Nhiêu, ông Đặng Châu Tuệ, bà Trần Thị Nhị, bà Nguyễn Thị Lợi…

18197635_418430985181506_1614913805_n

Tháng 8/1941 thực hiện Nghị quyết của Tỉnh ủy Thanh Hóa về việc xây dựng căn cứ địa cách mạng là chiến khu Ngọc Trạo huyện Thạch Thành, cùng với xây dựng hai cơ sở tập kết huấn luyện du kích tại hai khu vực là: làng Ninh Thôn xã Hà Ninh và làng Đa Ngọc xã Yên Giang huyện Yên Định. Vì vậy nhà ông Trịnh Đình Chí và bà Nguyễn Thị Diệu lại càng đông khách của Tỉnh ủy vào ra, vừa để tìm hiểu xác định vị trí hang Treo xã Hà Long vừa quyết định vị trí trại tập kết huấn luyện du kích ở Núi Cống Chiêng làng Ninh Thôn.v.v…

Được Tỉnh ủy Thanh Hóa tin tưởng chọn làng Ninh thôn làm nơi xây dựng trại tập kết ngay ở làng quê mình, ông Trịnh Đình Chí rất phấn khởi và đã nhanh chóng phối kết hợp triển khai thực hiện. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của ông Đặng Châu Tuệ và ông Đặng  Hỷ ông Trịnh Đình Chí cùng với ông Đường Văn Thông và ông Nguyễn Kỳ đã phối hợp tổ chức tuyên truyền sâu rộng ra các nơi trong huyện và khu vực như Hà Châu, Ba Đình Nga Sơn, Hà Vân, Hà Dương, Hà Ninh, Hà Lâm… vận động anh em thân thích trong nhà đóng góp tiền của.v.v.. vừa triển khai tìm vị trí, mặt bằng xây dựng, đảm bảo bí mật và thuận tiện giao thông, đồng thời ông Chí đã vận động, thuyết phục vợ là bà Nguyễn Thị Diệu bỏ của nhà để cầm cố một mẫu ruộng, một con trâu, vay 50 lường lúa, bốn quan bạc để mua nguyên vật liệu (Tranh, tre, luồng nứa) xây dựng trại.

Sau khi khảo sát tìm vị trí mặt bằng xây dựng và được Tỉnh ủy Thanh Hóa đồng ý vị trí đất xây dựng trại tập kết huấn luyện du kích tại Núi cống chiêng làng Ninh thôn xã Hà Ninh, vì ở đây đã đạt yêu cầu của Tỉnh ủy, vừa gần đường cái quan, và có đường tắt qua ba khe lên Tam Quy Hà Tân, lên động bồng, đồng vèo Hà Tiến để lên Ngọc Trạo được gần và đảm bảo bí mật.v.v… ông Trịnh Đình Chí đã vận động ông Trịnh Đình Giảng và Nguyễn Đình Xum là 2 đảng viên trong làng cùng tham gia. Quá trình triển khai tuyên truyền vận động tập hợp của ông Nguyễn Kỳ và ông Đường Văn Thông được tốt, vì vậy việc triển khai xây dựng lán trại làm cơ sở tập kết và huấn luyện du kích đưa lên chiến khu Ngọc Trạo ở làng Ninh thôn được đồng bộ, vừa san lấp mặt bằng, tìm mua thu gom vật liệu, huy động nhân lực và lương thực thực phẩm, nên chỉ gần một tháng lán trại đã xây dựng xong, đạt yêu cầu về mọi mặt theo sự chỉ đạo của ông Đặng Châu Tuệ và ông Đặng Hỷ.v…

4bb454674c6578edbld

Cuối tháng 9 đầu tháng 10/1941 chiến khu Ngọc Trạo bị lộ đế quốc Pháp và chính quyền phong kiến tổ chức càn quét, lùng sục  bắt bớ đàn áp rất dã man một số Đảng viên ở huyện và tỉnh bị địch bắt, trong số đó có người không chịu được đòn tra tấn của địch nên đã khai báo, làm lộ bí mật lan rộng.v.v… ông Trịnh Đình Chí bị địch bắt đợt sau ở ngay lớp học mà ông đang dạy và bị kết án 10 năm tù tại nhà lao Thanh Hóa, cac dong chi cua ong chi bi ket an cao nhat 5 nam tu. Mặc dù bị đế quốc Pháp tra tấn rất dã man trong nhà tù, nhưng ông Trịnh Đình Chí vẫn luôn giữ vững ý chí cách mạng trung thành với Đảng bảo toàn được số cán bộ cùng hoạt động với ông chưa bị lộ; kiên quyết đấu tranh trực tiếp với bọn cai ngục, đỉnh cao là đã tham gia tuyệt thực 7 ngày để đòi 7 yêu sách cho anh em đồng chí trong tù (Được ra gặp trực tiếp khi người nhà đến thăm; được tắm rửa hàng ngày, được cấp thuốc men khi bị ốm đau; được trực tiếp đi vệ sinh cá nhân (hành dịch); được người nhà gửi thuốc lào vào để hút.v.v…). Ngày đầu có gần 30 người tham gia đấu tranh bằng tuyệt thực, nhưng có số đông người không chịu đói được dài ngày.v.v… Nên số người tham gia tuyệt thực giảm dần, đến ngày thứ 7 chỉ còn 9 người trong đó có ông Trịnh Đình Chí cùng với 8 người khác đã tham gia tuyệt thực liên tục đòi được yêu sách.

images

Âu cũng là vận nước – phúc nhà: sau gần 4 năm ở trong tù thì Nhật đảo chính Pháp chớp đúng thời cơ và được sự chỉ đạo của Trung ương  Đảng phong trào đấu tranh đòi tự do trong các nhà tù của thực dân Pháp phát triển mạnh, buộc phát xít Nhật phải nhượng bộ. Vì vậy ngày 16/3/1945 số tù chính trị ở nhà lao Thanh Hóa do đế quốc Pháp giam giữ được tự do. Trong đó số đông là cán bộ Đảng viên tham gia chiến khu Ngọc Trạo năm 1941, ông Trịnh Đình Chí về nhà, nghỉ ngơi ít ngày đã chủ động tìm bắt liên lạc được ngay với tổ chức Đảng ở huyện và Tỉnh, tiếp tục tham gia lãnh đạo cách mạng ở địa phương.

– Từ thực tế đấu tranh trực tiếp, với đế quốc phong kiến ở trong tù tại nhà lao Thanh Hóa đã tôi luyện hun đúc ý chí cách mạng và quyết tâm cho ông Trịnh Đình Chí trong thực hiện nhiệm vụ được giao ở huyện (xây dựng lực lượng, tổ chức cơ sở cho Tổng khởi nghĩa).

– Tháng 5/1945 ông tham gia Việt Minh huyện và đã tuyên truyền, gây dựng cơ sở được ở các nơi: làng Ninh thôn, Đa Quả, Cối thị, các làng trong tổng Ngọ xã v.v….Khi được giao nhiệm vụ trực tiếp lãnh đạo khởi nghĩa ở Tổng Ngọ xã (thời điểm này ở huyện có 8 Tổng), ông đã triển khai nhanh chóng tới mạng lưới tổ chức mới gây dựng. Tối ngày 18/8/1945 các làng trong tổng Ngọ xá đồng loat khởi nghĩa thành công, thiết thực góp vào kết quả chung, tạo được khí thế mạnh mẽ sôi nổi trong nhân dân ở huyện và tỉnh.

– Ngày 21/8/1945 ông đi tổ chức thành lập ủy ban hành chính ở khắp các thôn trong tổng Ngọ xá, ngày 26/8/1945 được giao làm Chủ tịch Ủy ban hành chính tổng Ngọ xã và ngày 27/10/1945 ông được kiêm Chủ nhiệm Việt Minh tổng. Ngày 16/2/1946 được giao thêm chức Chủ tịch ban bảo vệ địa phương xã và tham gia đại biểu HĐND xã, tháng 5/1946 làm phó chủ nhiệm Việt Minh huyện, kiêm Bí thư nông dân cứu quốc và chủ nhiệm Việt Minh xã Nguyễn Trãi (được đổi từ tổng Ngọ xá).

– Tháng 9/1947 được chỉ định làm Chủ tịch xã Yến Sơn tham gia cấp ủy chi bộ xã, tháng 6/1949 được giao làm dự bị Bí thư và tháng 10/1949 làm Bí thư chi bộ xã Yến Sơn. Tháng 3/1950 được điều lên Huyện ủy làm Trưởng ban dân vận, tháng 12/1950 kiêm chức Liên việt huyện và công giáo vận huyện Hà Trung

Tháng 1/1951 được kiêm bào chữa viên tòa án, và được bổ sung vào Ban chấp hành Huyện ủy, chịu trách nhiệm  Bí thư Đảng Đoàn huyện Hà Trung.

Tháng 3/1952 được bầu vào BCH huyện ủy phụ trách Liên Việt. Tháng 9/1952 được Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa quyết định bổ sung vào Thường vụ Huyện ủy, kiêm trưởng ban dân vận và Liên Việt huyện liên tục đến tháng 6/1954.

Do sức khỏe và tình hình chính trị xã hội cho phép, đế quốc Pháp thất bại ở Điện Biên Phủ, phải ký hiệp định Giơ-ne-vơ.v.v.. Đất nước hòa bình nên tháng 7/1954 ông Trịnh Đình Chí được Tỉnh ủy Thanh Hóa cho đi nghỉ dưỡng, chữa bệnh ở Trung Quốc. Tháng 8/1954 ông được sang Quế Lâm cùng với 26 người trong tỉnh Thanh Hóa. Đây là đợt đầu Đảng và Nhà nước ta gửi cán bộ sang nước ngoài nghỉ dưỡng chữa bệnh.

Qua gần 2 năm nghỉ dưỡng chữa trị, sức khỏe của ông hồi phục không đáng kể, mặc dù bệnh viện nước bạn đã mổ và cắt lá lách và sau đó bị cắt 1/3 lá gan. Đây thực sự là bệnh hiểm nghèo do bị tra tấn tù đày của thực dân phong kiến 4 năm tại nhà lao Thanh Hóa.

Đồng thời thực tế lúc này trình độ y học của Trung Quốc còn hạn chế. Vì vậy tháng 6/1956 ông được chuyển về nước và được điều trị ở bệnh viện Việt Trung tại Hà Nội. Vì nhận thấy khả năng bệnh tật không thể qua khỏi, sức khỏe giảm sút dần. Nên ông xin về nhà với mục đích là được thấy mặt vợ con, với ý thức tổ chức kỷ luật cao về đến nhà được một ngày ông tự chống gậy ra báo cáo thường trực huyện ủy Hà Trung về tình hình sức khỏe và thời gian sinh hoạt Đảng ở nước ngoài và sau thời gian ngắn thì ông bị mất ngày 01/7/1956 tại nhà hưởng thọ 47 tuổi.

Với hơn 2 năm được chứng kiến, hưởng thụ thành quả của cách mạng, không khí của đất nước độc lập trong hòa bình miền Bắc đi lên XHCN và được chứng kiến sự phát triển đi lên XHCN của nước bạn Trung Quốc nơi ông nghỉ dưỡng chữa bệnh và qua báo đài về sự phát triển của Liên Xô và các nước XHCN trên thế giới, là cơ sở khách quan để ông Trịnh Đình Chí hoàn toàn mãn nguyện, với sự hy sinh cống hiến và niềm tin tưởng tuyệt đối của ông vào lý tưởng, mục tiêu cách mạng của Đảng và Bác Hồ đã chọn. Điểm lại thời gian và quá trình phấn đấu rèn luyện của ông Trịnh Đình Chí từ khi gia nhập Đảng cách mạng Tân Việt năm 1928 cho đến khi ông từ cõi trần 1956, mặc dù công tác ở đâu, cương vị nào, khi bị địch bắt tra tấn dã man, khi làm thầy giáo và hoạt động bí mật ông Trịnh Đình Chí vẫn luôn thể hiện ý chí quyết tâm không sợ hy sinh gian khổ, kiên quyết đấu tranh cho độc lập tự do của dân tộc, cho chủ nghĩa xã hội.

Công lao của ông Trịnh Đình Chí so với sự hy sinh cống hiến của toàn Đảng thì vô cùng nhỏ bé, nhưng trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể của một địa phương một tỉnh một huyện thì rất đáng trân trọng rất đáng tự hào, thực sự là tấm gương sáng để con cháu và các thế hệ trẻ noi theo phấn đấu trưởng thành. Để ghi nhận công lao và biểu dương thành tích, sự hy sinh cống hiến cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, lịch sử Đảng bộ huyện và địa chí huyện Hà Trung đã ghi. Đồng thời trong giấy chứng nhận lão thành cách mạng của ông cũng thể hiện sự tôn vinh, ghi nhận ông là một trong số ít Đảng viên tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1927, là một trong số người tham gia hoạt động cách mạng sớm nhất ở tỉnh Thanh Hóa, là người có số năm tham gia cách mạng trước khi khởi nghĩa sớm nhất và nhiều nhất tỉnh Thanh Hóa.

VỀ GIA CẢNH

Sau khi đi dạy học ở Như Xuân được 2 năm thì ông Trịnh Đình Chí được cha mẹ cho lập gia đình (1932) vợ ông là bà Mai Thị Mẳn, nghề làm ruộng thuộc thành phần trung nông, hai gia đình ở trong một làng, cách nhau chừng 100m.

Ông bà mới xây dựng, đang tập trung xây dựng cơ nghiệp thì gặp khó khăn chồng chất, năm 1935 cha ông bị mất trong khi ông đang dạy học ở huyện Như Xuân cách nhà hơn 100km, sau đó lại là người con trai đầu của ông bà cũng ra đi khi còn rất nhỏ, gia đình nội ngoại đều rất khó khăn kinh tế luôn túng thiếu. Đầu năm 1939 bà Mai Thị Mẳn sinh người con thứ hai (là ông Trịnh Thành Đồng hiện nay) được 24 ngày thì bà mắc bệnh hiểm nghèo cả gia đình tập trung hết sức cứu chữa, nhưng bệnh không qua khỏi, bà Mai Thị Mẳn ra đi mãi mãi, để lại cho ông đứa con chưa đầy tháng tuổi, khi ông bước vào tuổi 30.

Tình hình chính trị, kinh tế khu vực và thế giới lúc này cũng diễn biến phức tạp, đại chiến thế giới lần thứ 2 bùng nổ. Đế quốc Pháp tăng cường áp bức bóc lột bắt phu bắt lính, tăng thuế khóa…vào cùng thời điểm này ông Trịnh Đình Chí được chuyển về dạy học ở huyện nhà, tại làng Thạch Lễ xã Hà Lai cách nhà hơn 10km.

Bị đứt gánh giữa đường, cảnh gà trống nuôi con đến với ông thật quá đột ngột – bất ngờ, vừa đi dạy học, vừa phải chăm sóc nuôi con nhỏ chưa đầy tháng tuổi và đang phải thực hiện trách nhiệm đối với mẹ già bên Nội – bên Ngoại.v.v..

Scan10005.BMP

Nhưng ông thu xếp, giải quyết yên ổn và đã chủ động tìm, bắt liên lạc với tổ chức Đảng ở huyện. Trong lúc công việc bề bộn, kinh tế ngặt nghèo, tất cả chỉ chờ vào đồng lương dạy học, vào cơ bắp trí lực của ông, khó khăn dồn hết vào ông, thế nhưng ông đã bình tĩnh chủ động từng bước khắc phục khó khăn, bảo đảm an toàn cho con, chu cấp chăm sóc mẹ già, duy trì lớp học thu hút học sinh và tìm bắt liên lạc với tổ chức Đảng. v.v…

Bảy tháng sau, giữa lúc đang một mình lăn lộn tháo gỡ khó khăn, thì ông gặp bà Nguyễn Thị Diệu, quê ở làng Tuần Giang xã Hà Thanh, nhà bà ở cách trường của ông dạy học gần 2km. Như duyên đã se, trời đất đã định, bà Nguyễn Thị Diệu cũng là con út trong gia đình có 5 chị em gái, bà là con út nên được cha mẹ cho đi học, biết hai thứ chữ: chữ Quốc ngữ và chữ Hán, bà có cha cũng làm nghề dạy học, mẹ làm ruộng, thuộc thành phần Nho giáo nghèo, thấu hiểu và thông cảm với hoàn cảnh của ông Chí, nên cha mẹ bà thương tình khuyên bảo, động viên nên bà Nguyễn Thị Diệu không nề hà e ngại.v.v… vừa cưới chồng đã được làm mẹ ngay, nuôi dưỡng người con mới 7 tháng tuổi và phải làm quen với gia phong tập tục nhà chồng, thực sự là thử thách rất lớn đối với bà khi vừa bước vào cuộc sống tự lập.

Ông Trịnh Đình Chí và bà Nguyễn Thị Diệu đều là người có học, đều biết hai – ba thứ chữ, thứ tiếng trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ thực sự là rất hiếm. Nhưng chính điều đó lại là thuận lợi lớn nhất cho quá trình hoạt động cách mạng, nuôi dạy con cháu, xây dựng hạnh phúc tương lai của gia đình. Cuối năm 1941, khi bà Diệu đang có thai lần đầu thì chiến khu Ngọc Trạo bị lộ, đế quốc Pháp và chính quyền tay sai phong kiến tập trung càn quét lùng sục khủng bố, ông Trịnh Đình Chí bị địch bắt đi tù chính trị với án 10 năm ở nhà lao Thanh Hóa, một gánh nặng khủng khiếp nữa lại đè nặng lên thân hình bé nhỏ, gầy yếu của bà Nguyễn Thị Diệu, vừa đang có thai sắp tới kỳ sinh nở, vừa phải nuôi con còn quá nhỏ, vừa chăm sóc cha mẹ và mẹ chồng, đồng thời còn phải thường xuyên chu cấp cho chồng đang ở nhà lao Thanh Hóa cách nhà hơn 30km. Không những thế, bà Diệu còn phải đứng ra trả nợ toàn bộ khoản cầm cố, vay tiền của cho xây trại tập kết huấn luyện du kích cho chiến khu Ngọc Trạo, vì bà đứng tên, và cả 3 Đảng viên trong làng đều đã bị địch bắt đi tù chính trị (thực tế số cầm cố do bà đứng tên chỉ có mình gia đình bà phải trả trong 13 năm mới hết). Trong khi mọi hoạt động của bà từ khi chồng bị bắt đi tù chính trị luôn bị bọn quan lại tay sai đế quốc ở làng theo dõi nhòm nhó.v.v…

Bằng vốn nhận thức, học vấn được cha mẹ nuôi dạy cho ăn học và thực tế chung sống với ông Trịnh Đình Chí  gần 2 năm, bà Diệu đã nhận biết thêm được nhiều điều, thêm nghị lực và ý chí cách mạng, căm thù đế quốc phong kiến. Nên đứng trước khó khăn nguy hiểm bà vẫn luôn bình tĩnh chủ động tìm được giải pháp tháo gỡ từng phần giữ được ổn định, an toàn.

Cuối tháng 10/1941 người con trai đầu lòng của bà ra đời (là ông Trịnh Xuân Bào), một mình bà phải bươn chải, gánh vác, không những phải đảm đương việc nhà trong lúc chồng đang ở tù, bà Nguyễn Thị Diệu vẫn duy trì giữ vững điểm dừng chân trong đường dây bí mật của Tỉnh ủy Thanh Hóa, tạo thuận lợi cho nhiều cán bộ Tỉnh ủy Thanh Hóa đi lại chỉ đạo gây dựng phong trào cách mạng ở huyện Hà Trung và huyện Nga Sơn được liên tục từ 1940 đến cách mạng tháng 8/1945 thành công.

Scan10005.BMP

Nạn đói năm 1945 làm chết hơn 2 triệu người để lại dấu ấn đầy uất hận, căm phẫn chế độ phong kiến đế quốc. Giữa lúc nạn đói đang vào đỉnh cáo không ít gia đình bị chết đói, nhiều gia đình phải bán con, đưa con ra chợ, ra đường bỏ. Ông Trịnh Đình Chí vừa ra tù, hoàn cảnh gia đình cũng rất khó khăn thiếu thốn, nhưng với lòng thương người, tính nhân đạo, nhân văn cao cả đã khiến cho ông có quyết định sáng suốt, ông bà đã nhận nuôi một cháu gái (vì cha mẹ đã chết đói) và ba tháng sau, ông bà lại xin chuộc lại một cháu trai 7 tuổi (vì cháu trai bị mẹ bán sau khi bố bị chết để đi lấy chồng.v.v…). Cả hai người cháu đều là con của người bác họ, với tấm lòng thơm thảo, ông Trịnh Đình Chí và bà Nguyễn Thị Diệu xác định: Đã đón hai cháu về nuôi, phải chăm sóc, dạy bảo như con đẻ của mình để bảo tồn giống nòi dòng họ. Vì vậy các con trai gái của ông bà thương yêu người anh người chị thực sự như người anh người chị ruột trong nhà, và đều đã khai trong lý lịch Đảng viên, lý lịch quân nhân, lý lịch cán bộ là có người anh người chị.

Từ năm 1945 đến 1954 ông bà có thêm 3 người con, 2 người con trai là Trịnh Quốc Tuệ và Trịnh Đình Phúc, một người con gái là Trịnh Thị Tâm.

Trong lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp diễn biến quyết liệt, ông bà vừa trực tiếp hoạt động thực hiện nhiệm vụ cách mạng của Đảng, vừa lao động sản xuất, nuôi dạy 7 người con ăn học và đóng góp các quỹ cứu quốc, ngoài những đóng góp bằng trí lực vật lực trực tiếp và gián tiếp cho cách mạng trong cả thời kỳ hoạt động bí mật trước khi Đảng giành được chính quyền và cả sau khi nước nhà độc lập thống nhất đất nước, gia đình ông bà đã dày công nuôi dưỡng giáo dục con cháu trưởng thành, giữ vững được thuần phong mỹ tục, đoàn kết, kính trên nhường dưới, thương yêu đùm bọc lẫn nhau, góp phần thiết thực nhỏ bé vào các phong trào cách mạng.

Ông bà có một người con cháu tham gia dân công hỏa tuyến trong kháng chiến chống Pháp, 2 người con vào quân đội, đi chiến đấu giải phóng miền Nam từ những năm 1960 khi mới 17, 18 tuổi, 8 người con dâu – rể  được tiếng trong hàng ngũ của Đảng cộng sản Việt Nam từ trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, ba người con, mỗi người có 2 bằng đại học từ những năm 1980, một người con rể là Ủy viên thường vụ huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La liên tục nhiều khóa, một người con là Phó đoàn địa chất 307 thuộc Tổng cục địa chất, 1 người con gái là Phó phòng đào tạo trường chính trị tỉnh Thanh Hóa, một con dâu là Bí thư chi bộ Hiệu trưởng trường THCS. Đặc biệt ông Trịnh Đình Chí và bà Nguyễn Thị Diệu còn là người cha, người mẹ hiếm có ở tỉnh Thanh Hóa đã có hai người con trai làm Bí thư thị ủy thị xã Sầm Sơn, và Bí thư Huyện hủy huyện Hà Trung tỉnh Thanh Hóa, trong đó có một người từng làm Tỉnh ủy viên tỉnh ủy Thanh Hóa liên tục nhiều khóa, với chức vụ Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy và giám đốc trường chính trị tỉnh Thanh Hóa. Ông bà có 2 người con rể và 5 người con dâu đều tiến bộ trưởng thành. Từ một gia đình có 7 người con, ông bà đã nuôi nấng dạy bảo, tạo dựng phát triển đến nay thành 19 hộ gia đình con cháu – chắt với 33 cháu trai gái dâu rể và 16 chắt nội ngoại, không có ai nghiện ngập cờ bạc trác táng. Trong 34 cháu đã có 19 cháu có bằng đại học, 3 cháu đang học cao học, nhiều cháu có hai bằng đại học và 3 chắt có bằng đại học, 1 cháu là Tiến sỹ, 03 cháu có bằng Thạc sỹ (có cháu có 02 bằng Thạc sỹ). Nâng tổng số bằng đại học, Tiến sỹ, cao học của gia đình trên 35 và nhiều bằng cao đẳng khác. Đặc biệt ông bà có 2 cháu đoạt giải 3 quốc gia khối đại học, một cháu tốt nghiệp đại học đạt giỏi và nhiều đạt khá, đồng thời ông bà còn có 1 cháu đang là Phó khoa của trường chính trị tỉnh, một cháu là Giám đốc công ty Tư vấn xây dựng. Với phương pháp nuôi dưỡng giáo dục dạy bảo khoa học, ông bà đã khơi dậy được tính chủ động sáng tạo của con cháu trong lao động sản xuất, công tác học tập, có đức tính trung thực – thẳng thắn, cầu thị khiêm nhường, có kỷ cương, kính trên nhường dưới, lòng hiếu thảo và có trách nhiệm với cộng dồng đoàn kết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, duy trì được nề nếp gia phong gia tộc. Tuy con cháu của ông bà ở phân tán nhiều nơi, điều kiện môi trường sinh sống và công tác khác nhau nhưng các thế hệ hậu duệ nội ngoại nối tiếp nhau luôn duy trì truyền thống văn hóa, đoàn kết đại gia đình hòa thuận, đầm ấm hạnh phúc.

Gia đình ông Trịnh Đình Chí với bà Mai Thị Mẳn và bà Nguyễn Thị Diệu có hoàn cảnh đặc thù, hai bà cùng chung vai gánh vác sự nghiệp theo quy luật của tự nhiên về tạo hóa nhân loại. Nhưng mỗi bà lại độc lập trong mỗi thời gian khác nhau thời điểm lịch sử xã hội khác nhau, không hẹn hò chờ đợi nhau, nhưng thực tế đã có sự hòa quyện kế tiếp nhau, sự gắn kết trách nhiệm vun đắp gây dựng hạnh phúc tương lai chung, thắm đượm tính nhân văn cao quý trong gia đình.

IMG_0184

Ngày 1 tháng 7 năm 1956 ông Trịnh Đình Chí từ trần để lại toàn bộ gia nghiệp cho bà Nguyễn Thị Diệu khi bà đang ở tuổi 42, một mình bà phải nuôi dạy 6 người con đang tuổi ăn học, người con nhỏ nhất mới 4 tuổi, việc ăn mặc học hành và đóng góp nghĩa vụ với chính quyền – đoàn thể ở địa phương.v.v… tất cả đều phụ thuộc vào kết quả lao động của bà và cơ may thời tiết, mưa thuận gió hòa nơi đồng ruộng. Bằng nghị lực và ý chí quyết tâm cùng với những kinh nghiệm thực tế trong nuôi dấu cán bộ cách mạng hoạt động bí mật và trong quá trình chu cấp cho chồng trước cách mạng tháng 8/1945 và trong kháng chiến chống Pháp.v.v…Bà Nguyễn Thị Diệu đã vượt lên cả chính thân hình nhỏ bé của bà, tập trung toàn bộ trí lực cho nuôi dạy 6 người con, ai cũng được đi học và lo toan việc làm, tạo dựng gia đình. Đồng thời bà luôn tích cực hưởng ứng các phong trào cách mạng ở địa phương như diệt giặc đói, diệt giặc dốt, bà còn trực tiếp tham gia vào các tổ chức Nông hội – Phụ nữ và tham gia vào ban quản trị HTX Nông nghiệp, HTX mua bán, HTX tín dụng, là đại biểu hội đồng nhân dân xã Hà Ninh liên tục nhiều khóa trong những năm 1960 ¸ 1970.

Với công lao đóng góp – cống hiến cho cách mạng nuôi dấu cán bộ hoạt động bí mật trước khởi nghĩa, đóng góp tiền của và trí lực cả trước khi Đảng giành được chính quyền và trong kháng chiến chống Pháp- chống Mỹ.v.v…

Ngày 01/1/1978 bà Nguyễn Thị Diệu đã vinh dự được Đảng và Nhà nước tôn vinh, tặng Bằng người có công với nước, trong đó ghi rõ thành tích: Vì đã nêu cao tinh thần yêu nước tích cực giúp đỡ và bảo vệ cách mạng, góp phần xứng đáng vào thắng lợi của cuộc cách mạng tháng 8/1945 lịch sử của dân tộc. Bà là một trong số 30 gia đình và người được cấp Bằng có công với nước do Chủ tịch Nước thay mặt Đảng, Nhà nước và Chính phủ ký ghi nhận.

IMG_0178

Đối với gia đình, gia tộc, bà Nguyễn Thị Diệu đã hoàn thành xuất sắc, làm tròn nhiệm vụ kế tiếp của ông Trịnh Đình Chí và bà Mai Thị Mẳn để lại: chăm sóc, thờ phụng bố mẹ, ông bà tổ tiên chu toàn, nuôi dưỡng dạy bảo giáo dục con cháu trưởng thành, ai cũng được đi học, có sức khỏe, có đạo đức, có trí tuệ, có trách nhiệm với việc phát huy truyền thống gia đình gia tộc, đào tạo các thế hệ nhân lực phục vụ thiết thực cho xây dựng quê hương đất nước phát triển đẹp giàu. Thật hiếm hoi khi có một gia đình có truyền thống cách mạng như gia đình ông Trịnh Đình Chí với bà Mai Thị Mẳn và bà Nguyễn Thị Diệu ở tỉnh Thanh Hóa nói chung và ở huyện Hà Trung nói riêng, một gia đình có cả ông và bà là lão thành cách mạng và là người có công với nước, gia đình có công với nước duy nhất ở tỉnh Thanh Hóa hiện đang có 3 thế hệ nối tiếp nhau là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, trong đó có gia đình một người con có 100% bố mẹ, con trai, con gái, con dâu, con rể đều là Đảng viên, đồng thời có 3 người con đã từng giữ vị trí cao nhất ở cấp huyện và thị xã, ba người con là thương binh trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước và bình quân cứ 2 người thì có 1 bằng Đại học.v… Đây là sự đóng góp không nhỏ cho nền khoa học chung của huyện và của tỉnh nhà.

Do tuổi cao, sức yếu, ngày 20/2/2009 bà Nguyễn Thị Diệu đã từ trần, hưởng thọ 96 tuổi, vĩnh biệt cõi trần, bà Nguyễn Thị Diệu hoàn toàn mãn nguyện và rất đỗi tự hào với gần 1 thế kỷ lao động học tập, cống hiến trí – lực và xương máu cho độc lập dân tộc thống nhất tổ quốc mà Đảng và nhà nước đã ghi nhận – tôn vinh và trách nhiệm nuôi dạy con cháu, thờ phụng ông bà tổ tiên, hoàn thành xuất sắc phần việc gia đình của ông Trịnh Đình Chí và bà Mai Thị Mẳn để lại.

Các thế hệ con cháu, hậu duệ của ông Trịnh Đình Chí với bà Mai Thị Mẳn và bà Nguyễn Thị Diệu đã và đang không ngừng rèn luyện học tập, phấn đấu noi theo tấm gương sáng về lao động sáng tạo của cha mẹ, phát huy truyền thống văn hóa, tuyền thống cách mạng của quê hương gia tộc – ý chí quyết tâm, tinh thần cách mạng tiến công của ông – bà trong suốt thời gian qua và ngày nay trước hương hồn, vong linh cha mẹ, ông bà, các thế hệ con cháu, hậu duệ chúng con xin nguyện: Quyết tâm rèn luyện học tập, lao động sáng tạo, giành nhiều thành tựu mới – chiến công mới.v.v… góp phần trực tiếp xây dựng đại gia đình không ngừng phát triển giàu đẹp văn minh, thực hiện thắng lợi mục tiêu lý tưởng cách mạng mà Đảng và Bác Hồ đã chọn: Dân giàu nước mạnh xã hội dân chủ công bằng văn minh./.

Ninh Thôn  – Hà Ninh – Hà Trung – Thanh Hóa

          Ngày 28/12/2011

          Người sưu tầm, biên soạn

          Trịnh Quốc Tuệ

          (Con trai thứ của ông bà)

Share.

About Author

Leave A Reply