KINH TẾ THƯƠNG NGHIỆP THỜI LÊ – TRỊNH QUA MỘT SỐ NGUỒN SỬ LIỆU PHƯƠNG TÂY

0

KINH TẾ THƯƠNG NGHIỆP THỜI LÊ – TRỊNH QUA MỘT SỐ NGUỒN SỬ LIỆU PHƯƠNG TÂY
PGS.TS. Nguyễn Văn Kim (Đại học Quốc gia – Hà Nội).
(Bài viết được đăng trên Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Thăng Long thời Lê – Trịnh, do Hội Khoa học Lịch Sử Việt Nam tổ chức năm 2010 tại Hà Nội, Kỷ yếu này đã được Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa xuất bản năm 2012 và được lưu tại Thư viện Quốc gia Việt Nam, số ISBN 9786046802136).
Trong quá trình phát triển lịch sử và kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia, kinh tế công – thương luôn là bộ phận hợp thành và có vai trò quan trọng. Nhìn nhận sự phát triển kinh tế gắn với đặc tính của các nhà nước, ở khu vực Đông Á đã xuất hiện 03 mô hình tiêu biểu: Thể chế nông nghiệp gắn với các châu thổ; Thể chế du mục hình thành trên các vùng thảo nguyên và Thể chế thương nghiệp được thiết lập dựa trên nền tảng của các trung tâm sản xuất thủ công cùng các tuyến giao thương khu vực, quốc tế. Nhìn chung, lịch sử kinh tế xã hội miền Bắc Việt Nam mà người phương tây vẫn quen gọi chung là “Tonkin” chịu ảnh hưởng mạnh của mô hình thứ nhất. Tuy nhiên, thực tế lịch sử cho thấy, kinh tế nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo, nhưng kinh tế công thương cũng luôn có vai trò quan trọng trong việc củng cố sức mạnh đất nước, đồng thời tạo nên chỉnh thể kinh tế của một quốc gia.
Thế kỷ XVI-XVIII được coi là Thời hoàng kim trong giao thương quốc tế. Vào thời gian đó, kinh tế Đại Việt nói chung và kinh tế đối ngoại nói riêng đã có nhiều biến chuyển sâu sắc và phát triển vượt trội. Với tư cách là chính thể cầm quyền, chính quyền Lê – Trịnh (mà thể hiện rõ nhất và tầm nhìn và quyền uy của Phủ Chúa Trịnh) đã không chỉ đưa nền kinh tế Đại Việt dự nhập tương đối mạnh mẽ vào hệ thống kinh tế khu vực mà còn bảo vệ, khẳng định được chủ quyền dân tộc. Nhìn nhận vấn đề từ “cách tiếp cận ngoại vi”, “tầm nhìn tha nhân” (Vision de L’autre), bài viết muốn trình bày các hoạt động và đặc tính của tình hình thương nghiệp, nhất là ngoại thương của Đằng Ngoài qua một số nguồn tư liệu phương Tây mà phần lớn tác giả của các ghi chép, hồi ký, nhật ký, du ký… đó đã từng đến sinh sống, buôn bán, truyền giáo ở Đằng Ngoài thế kỷ XVI – XVIII.
1. Điều kiện tự nhiên và tiềm năng kinh tế
Cũng như hầu hết các quốc gia phương Đông khác, với Đàng Ngoài nông nghiệp từ lâu vẫn được coi là ngành kinh tế căn bản. Tuy nhiên, hoạt động thương mại cũng được nhà nước chú trọng. Theo một số nguồn sử liệu, mối quan hệ, buôn bán giữa Ấn Độ và Trung Quốc qua biển Giao Châu đã sớm được xác lập. Nhiều khả năng, vào những thế kỷ đầu sau công nguyên, các môn đồ của tòa thánh La Mã theo các đoàn thương thuyền đã đến Phù Nam (Funan). Trong thời gian đó, họ đã đến Giao Châu buôn bán, truyền đạo. Trải qua thời gian, đến cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI, người châu Âu bắt đầu thăm dò rồi từng bước xác lập quan hệ với các nước phương Đông. Với vị thế của những quốc gia tiên phong, thuyền buôn Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha đã đến buôn bán ở nhiều vùng đất trên thế giới. Song song với hoạt động kinh tế, hoạt động truyền giáo cũng diễn ra .
Trên con đường từ Địa Trung Hải tiến sang phương Đông sau khi vượt qua vùng biển Tây Nam Á và eo biển Malacca, người châu Âu bắt đầu tiếp xúc với cư dân Việt ở xứ Đàng Trong (Cochinchine). Từ phương Nam, họ tiến dần lên phía Bắc, tiếp xúc với người Đàng Ngoài . Từ đây, dựa theo “con đường tơ lụa trên biển” được thiết lập từ thời Đường (618-907) và tuyến Tây dương châm lộ khai mở vào thời Tống, người châu Âu đã từng bước thâm nhập vào khu vực thị trường Đông Bắc Á, đến Trung Quốc, Nhật Bản… Trong hệ thống đó, vị thế biển và tiềm năng kinh tế của Đại Việt đã có sức cuốn hút đối với các thương nhân phương Tây. Sự giầu có của thị trường Đông Bắc Á đặc biệt là Trung Quốc, Nhật Bản cũng tạo thêm những động lực cho ngoại thương Đàng Ngoài trở nên có vai trò quan trọng trong hệ thống giao thương khu vực.
Dựa theo những tường thuật, mô tả của người em trai là Daniel Tavernier, vốn là sĩ quan phụ trách kế toán, hành chính trên tàu buôn của công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC), người từng đến đằng ngoài trong khoảng thời gian 1639 – 1645 và một số nguồn thông tin khác, Jean – Baptiste Tavernier đã ghi lại và xuất bản công trình “Relation nouvelle et singuliére du Royaume de Tunquin” (Tập du ký mới và kỳ thú về vương quốc Đàng Ngoài). Tác giả cho rằng, Đàng Ngoài là một “xứ phì nhiêu, có khí hậu tốt và do đó là một xứ đông dân nhất” . Đến Đàng Ngoài năm 1688, thương nhân kiêm nhà thám hiểm người Anh W. Dampier ghi nhận: “Vương quốc Đàng Ngoài rất đông người, khắp nơi thị trấn và xóm làng mọc san sát” . Ở đó, “Tỉnh Kẻ Chợ – Trung tâm của vương quốc – nằm giữa các tỉnh Đông, Tây và Nam. Đây là một vùng đất rất đẹp và trù phú. Đất đai màu vàng hay màu xám và có khá nhiều gỗ. Hai mặt hàng chính của nền thương mại là sơn sống và tơ tằm có rất nhiều ở đây” .
Nhìn nhận về tiềm năng xuất khẩu của Đàng Ngoài, các thương nhân quốc tế đều có chung nhận xét: tơ lụa, trầm hương là nguồn tài nguyên chủ yếu của Đàng Ngoài. Do vậy, trong tất cả các chuyến buôn bán với Tonkin, thương nhân ngoại quốc đều muốn cất nhiều loại hàng hóa trong đó có tơ lụa . Cũng theo J.B. Tavernier thì: “tơ, xạ hương và những thứ hàng hóa khác ở xứ này rẻ hơn tất cả những xứ lân cận” . Trong phần viết “Những đặc sản của vương quốc Đàng Ngoài”, ông cũng cho biết thêm: “Ở vương quốc Đàng Ngoài có rất nhiều tơ lụa, bởi vậy mọi người trong xứ giàu cũng như nghèo, đều mặc áo tơ lụa. Người Hà Lan len lỏi vào mọi nơi để buôn bán. Chỗ nào kiếm lời được là họ đến. Hàng năm, họ mua của xứ này rất nhiều tơ lụa mang đi. Ngày nay, Hà Lan là nước mua nhiều tơ lụa nhất của Đàng Ngoài để đem bán cho Nhật Bản” . Trong du ký của mình, W. Dampier cũng bổ sung thêm: “Hàng hóa mang ra ngoài bán ở vương quốc này là vàng, xạ hương, tơ sống cũng như tơ đã chuốt” .
Theo một số nguồn tư liệu khác, trong buôn bán của VOC với các nước Đông Ấn (aux Indes), sản phẩm tơ lụa của Đàng Ngoài luôn được đánh giá cao, không thua kém tơ lụa Trung Quốc, vốn được coi là một trong những sản phẩm đặc thù, tinh xảo nhất của thế giới phương Đông. Theo đó, trong suốt 14 năm từ 1641 – 1654, lợi nhuận thu được từ việc buôn bán mặt hàng tơ lụa là rất cao, trung bình vào thập niên 40 của thế kỷ XVII, tơ lụa thường chiếm trên 100% . Tơ lụa ở Đàng Ngoài mà VOC bán ở thị trường Nhật Bản với giá 272 tael/picul (lợi nhuận 120%) , tơ lụa Trung Quốc loại 1 bán được 275 tael/picul còn tất cả đều dưới giá của tơ lụa Đàng Ngoài . Bên cạnh đó, chính các thương lái phương Tây cũng rất ấn tượng về cách mặc đồ lụa hay các sản phẩm tơ, vải khác rất thịnh hành, ‘do đó có thể kết luận rằng trong xứ sản xuất ra nhiều tơ lụa” và họ đã thực sự ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng tầng lớp xã hội “ai cũng mặc đồ lụa” . Dựa vào tài liệu lưu trữ của công ty Đông Ấn Anh (EIC), nhà nghiên cứu Anthony Farrington đã cung cấp nhiều thông tin giá trị về các mặt hàng nhập của Kẻ Chợ. Trong đó, ngoài bạc còn có diêm tiêu, lưu huỳnh, chì, vũ khí, toutenague (loại hợp kim kẽm, đồng, sắt) dùng để đúc tiền, dạ khổ rộng Anh cát lợi, nỉ xoắn tuyết, vải in hoa… Tuy nhiên, hàng Công ty mua hoặc đặt gia công nhiều nhất vẫn là tơ lụa, cùng các loại như nhung, lĩnh, sồi, lụa, the, dạ, lượt… Sau tơ lụa là gốm sứ, chủ yếu là sản phẩm của các làng gốm Bát Tràng, Thổ Hà . Các sản phẩm đó đã tạo nên nguồn hàng phong phú, tăng sức hấp dẫn cho thị trường Đàng Ngoài.
Một loại hàng hóa xuất khẩu nữa phải kể đến là gốm sứ từ các làng nghề nổi tiếng như Chu Đậu, Thổ Hà, Bát Tràng… Trên thực tế, loại “gốm Kochi” không chỉ được ưa chuộm ở thị trường Nhật Bản, được sử dụng trong nhiều nghi lễ, sinh hoạt văn hóa của người Nhật Bản mà còn được một số tập đoàn thương nhân phương Tây chú ý tới . Trong những thời điểm mà các trung tâm sản xuất gốm sứ Trung Quốc có nhiều biểu hiện suy thoái, gốm sứ Đại Việt đã đón nhận được cơ hội phát triển, được xuất khẩu ra nhiều thị trường khu vực và thực tế đã tạo nên một “dòng chảy gốm sứ Việt” sang các nước . Trong cuốn du ký của mình, W.Dampier từng nói đến đồ gốm sứ của Đàng Ngoài. Vào thế kỷ XVII, một số lượng lớn gốm sứ đặc biệt là loại chén có dung tích nữa pint (khoảng 0,29 lít) đã được người châu Âu đem đi bán ở thị trường Mã Lai và cả vùng Rackan thuộc vịnh Bengal (Ấn Độ) .
Trong một số hồi ký của các thương nhân châu Âu cũng thường nói đến việc mua bán “nô tỳ”. Dù dưới bất kỳ hình thức nào thì đây là loại “hàng hóa” đặc thù. Việc buôn bán thường được tiến hành theo kiểu “phi quan phương” mà mối lợi thu được thường rất khó có thể lường tính. Ngoài ra, cũng không thể không nói đến các mặt hàng được sử dụng như thứ hàng vừa là sản phẩm nhập khẩu vừa là sản phẩm được sử dụng trong quá trình xuất khẩu như gạo, đường, xạ hương, vàng,… Trong không ít trường hợp, các sản phẩm đó được dùng để thay thế cho nguồn thương phẩm chính như trầm hương, tơ lụa vốn ngày càng trở nên khan hiếm trên thị trường Đàng Ngoài cũng như khu vực.
Nhìn một cách tổng thể thì hầu hết người Tây phương đến nước ta lưu trú lâu dài hay chỉ đi ngang qua bờ biển đều có chung một nhận xét về một vùng tài nguyên giàu có và sự cường thịnh của xứ sở nằm giữa Ấn Độ và Trung Quốc. Họ cũng luôn có ấn tượng sâu sắc, tình cảm tốt đẹp về những người dân thuần hậu. Khối cư dân đó vừa có những điểm chung vừa có nhiều đặc tính khác biệt so với cư dân Đông Nam Á và Đông Bắc Á.
Trong sự chuyển mình chung của khu vực, từ thế kỷ XVI, bức tranh kinh tế của các quốc gia vùng Đông Á nói chung đều có sự khởi sắc bởi sự xâm nhập của các nước phương Tây. Sự xuất hiện của người châu Âu cùng với các đoàn thuyền buôn đã tạo nên nhiều biến động đối với các xã hội Đông Á, đồng thời đưa khu vực này dự nhập vào quá trình toàn cầu hóa lần thứ nhất.
Bằng nhiều con đường, cách thức khác nhau từ đầu thế kỷ XVI, các thương nhân châu Âu đã thiết lập được cơ sở thương mại ở phương Đông. Trong điều kiện con đường tiến vào thị trường Viễn Đông đã được khai mở, hoạt đông kinh tế khu vực đã mang những nội dung và tính chất mới. Hoạt động kinh tế mới đã phá vỡ mối quan hệ thương mại truyền thống lôi cuốn thị trường Đông Bắc Á, Đông Nam Á vào guồng quay của kinh tế thế giới. Con đường Bắc – Nam trước này do thương nhân Trung Quốc nắm giữ, giờ có thêm sự có mặt của thương nhân phương Tây, với kỹ thuật và phương tiện hàng hải tiên tiến, nhanh chóng trở thành tuyến đường biển hấp dẫn, trọng yếu của nhiều cường quốc châu Âu. Thông qua các công ty thương mại hùng mạnh, nhiều cường quốc châu Âu đã nhanh chóng lấn lướt và giữ độc quyền trên hải lộ Bắc – Nam, Tây – Đông, biến các thương nhân ở đây trở thành những người làm thuê hay là trung gian buôn bán. Trong bối cảnh đó, các thương cảng Việt Nam, với vị trí địa lý chiến lược, cùng với các cảng nước sâu, kín gió và các sản phẩm thương mại quan trọng đã trở thành điểm đến thường xuyên của các đoàn tàu buôn châu Á, châu Âu.
2. Chủ trương và chính sách của chính quyền Lê – Trịnh
Trước thế kỷ XV, nhiều quốc gia trong khu vực Đông Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Indonesia, Philippines… đã có nền thương mại phát đạt. Các quốc gia Đông Á đã tự thiết lập nên mạng lưới giao thương nội Á. Bước sang thế kỷ XVI, tình hình kinh tế bắt đầu có nhiều chuyển biến căn bản bởi sự thâm nhập của các nước phương Tây. Sự xuất hiện của người châu Âu và quá trình thâm nhập của các Công ty Đông Ấn phương Tây đã gây nên nhiều biến động xã hội, cũng như quan hệ truyền thống của chung khu vực.
Dưới cái nhìn so sánh, nhà nghiên cứu J. Buttinger đã viết: “Nền kinh tế Việt Nam không cho phép sự phát triển ở cấp độ làng xã bởi sự tăng trưởng lạ thường của đất nước… Sự ổn định kinh tế đã giúp Việt Nam ở mức độ nào đó tồn tại một cách kỳ diệu; sự mở rộng lãnh thổ bằng cách này hay cách khác đã giải quyết vấn đề tăng dân số; chắc chắn Việt Nam sở hữu nền hành chính tự nhiên tiên tiến nhất Đông Nam Á, nhưng sự cấu thành chế độ phong kiến riêng biệt trong cấu trúc xã hội đã kiểm soát được toàn bộ sự phát triển kinh tế – xã hội”. Dẫn lại nhận định của chuyên gia nổi tiếng về Đông Nam Á D.G.E. Hall, tác giả cũng cho rằng “Chúa Trịnh đã thừa hưởng một hệ thống hành chính có chức năng tương đương với bất kỳ nền hành chính bản địa nào ở Đông Nam Á. Nhưng họ đã cải tiến đi rất nhiều. Trịnh Cương giai đoạn 1709-1729 bắt đầu cho điều tra điền địa và cải cách chế độ thuế…” . Như vậy, trong nhận thức của các học giả quốc tế, kinh tế Đàng Ngoài không phải kinh tế thuần nông và chúa Trịnh đã thiết lập nên hệ thống quản lý năng động, hiệu quả, đạt trình độ cao so với các quốc gia khác ở Đông Nam Á.
Khi đến Đàng Ngoài, nhiều người ngoại quốc không khỏi ngạc nhiên về sự tồn tại của thiết chế “Song trùng lãnh đạo” của chính quyền Lê – Trịnh. Cơ chế vận hành, chia sẻ quyền lực của chính quyền này vô cùng phức tạp khiến cho không ít nhà truyền giáo, thương nhân đã có những hiểu biết, nhận thức không thật chính xác, thậm chí sai lệch về ngôi vị và quyền lực thực tế giữa “vua” (king) và “chúa” (lord). Tuy vậy, trên những nét khái quát nhất, những nhận xét của họ cũng rất tinh tế. Jean – Baptise Tavernier cho rằng: “Những vị tướng họ Trịnh rất ít chú ý đến danh hiệu của nhà vua mà chú ý đến quyền lực thực sự. Họ để cho vua Lê tất cả các hình thức bên ngoài, còn họ thì chuyên giữ quyền chỉ huy quân đội và tự mình nắm hoàn toàn quyền sử dụng một phần lớn thu nhập của vương quốc. Từ đó đến nay, có thể nói rằng có hai vua ở Đàng Ngoài, vua thực sự chỉ làm vì, còn chúa nắm hết quyền hành, giải quyết hết mọi việc” . Điều đó cũng có nghĩa rằng, trong quan hệ bang giao, giao thương quốc tế, Phủ Chúa chứ không phải Cung Vua, là cơ quan có quyền định đoạt về các chủ trương, chính sách cũng như các hoạt động ngoại thương. Tuy nhiên, nhiều nguồn tư liệu cũng cho thấy, quyền lực của phủ Chúa không phải bao giờ cũng tuyệt đối.
Để thiết lập quan hệ buôn bán thương xuyên, lâu dài và để đảm bảo các lợi ích thương mại, vào thế kỷ XVII nhiều tập đoàn thương nhân quốc tế đều mong muốn được thiết lập cơ sở buôn bán ở Đàng Ngoài. Kết quả là, chính quyền Lê – Trịnh đã cho phép Hà Lan, Anh lập thương điếm tại Thăng Long. Người Hà Lan đã đến buôn bán ở Đàng Ngoài từ năm 1637 đến năm 1700. Người Anh đến Đàng Ngoài năm 1672 và ở Phố Hiến đến năm 1683 chuyển vào Kẻ Chợ và hoạt động ở đây đến năm 1697. Theo W. Dampier: “Người Pháp cũng có trạm buôn của họ ở phố Hiến nhưng người ta không cho phép họ đặt một thương quán thứ hai ở Kẻ Chợ” . Trong thời gian đó, đối sách của chính quyền Lê – Trịnh với các tập đoàn thương nhân ngoại quốc tương đối khác nhau. Sự khác biệt đó còn được biểu hiện theo thời gian, theo “tư duy kinh tế” của người cầm quyền và thậm chí còn lệ thuộc vào những gì mà các thương nhân quốc tế đem đến buôn bán, biếu tặng.
Là một quốc gia ven biển, có nhiều hệ thống sông chảy qua lãnh thổ, người Đàng Ngoài vốn quen với cuộc sống sông nước, đi lại bằng thuyền và rất coi trọng thủy binh. Theo J.B.Tavernier: “Xứ này có nhiều sông chảy qua, có những dòng sông luôn có nhiều thuyền chiến lớn của nhà vua và những thuyền to (của tư nhân), do đó việc buôn bán của người trong xứ được thuận tiện” . Nhìn chung, khi đến Đàng Ngoài, thương nhân ngoại quốc luôn muốn đến các trung tâm kinh tế lớn như Phố Hiến, Thăng Long… Các trung tâm đó đều nằm ở ven sông, thuận lợi cho việc di lại, chuyên chở hàng hóa. Do vậy, chính quyền Lê – Trịnh đã thiết lập một hệ thống kiểm soát từ vùng cửa biển, dọc theo hệ thống ven sông và đặc biệt là vùng ngã ba sông. Những cứ liệu hiện nay cho thấy, vùng Domea, Phố Hiến có vai trò rất quan trọng. Đó vừa là tiền cảng của Thăng Long vừa là hệ thống kiểm soát bảo vệ cho kinh đô đồng thời cũng là trung tâm kinh tế lớn nhất của Đàng Ngoài . Theo mô tả của W.Dampier thì ở Phố Hiến: “Quan Trấn thủ của tỉnh sống ở đây (tức Trấn thủ Sơn Nam Lê Đình Kiên). Ông là một trong những ông quan to nhất của vương quốc và bao giờ cũng giữ trong thị trấn một số lớn binh lính và quan lại để ông dùng vào những công việc ông cần… Quan Tổng trấn hoặc viên phó quan cấp giấy thông hành cho tất cả mọi thuyền bè đi xuôi trên sông. Người ta không cho phép một thuyền nào đi qua mà không có giấy thông hành” . Một số nhà nghiên cứu cho rằng, đó là chính sách kiểm soát ngặt nghèo của chính quyền Đàng Ngoài. Chính sách đó thể hiện tư tưởng “ngăn sông, cấm chợ”. Tuy nhiên, nếu so sánh với các quốc gia khác trong khu vực Đông Á thì chính sách hay biện pháp đó chỉ là thông lệ trong giao thương quốc tế. Tất cả các chính quyền trong khu vực đều thực thi những biện pháp chặt chẽ để bảo vệ an ninh đất nước và chủ quyền kinh tế quốc gia.

TrinhTung_ThangLong
Vào thế kỷ XVI – XVIII, chính quyền Lê – Trịnh rất chú trọng đến vấn đề ngoại thương và thường trực tiếp giải quyết, can thiệp vào các hoạt động kinh tế đối ngoại. Trên thực tế, tuy có những ưu ái với một số thương nhân quốc tế như Nhật Bản , Hà Lan… nhưng chính quyền Thăng Long cũng đã cho phép tất cả các thương nhân ngoại quốc đến xác lập quan hệ giao thương. Đến Đàng Ngoài năm 1688, thương nhân người Anh W. Dampier xác nhận: “Khoảng 4 hoặc 5 ngày sau khi chúng tôi buông neo, viên giám đốc thương điếm cùng với vài viên quan đại diện cho chúa Đàng Ngoài lập tức xuôi dòng xuống gặp chúng tôi. Các nhân viên của chúa đến kiểm soát tàu và số hàng chúng tôi chở đến. Thuyền trưởng đón tiếp họ rất lịch sự. Ông ta cho bắn vài loạt thần công và tiếp đãi họ 2 đến 3 ngày, sau đó còn biếu quà cho họ khi trở về kinh đô” . Trước đó (năm 1627), Giáo sỹ Alexandre de Rhodes cũng cho rằng: “Tàu chúng tôi chưa vào tới bờ thì đã thấy rất đông người tụ tập để xem hàng hóa trong tàu” . Nhật ký tàu Grol của Công ty VOC đến vùng cửa sông Thái Bình năm 1637 nhằm thiết lập quan hệ với Đàng Ngoài cũng đã ghi lại nhiều thông tin giá trị về sự quan tâm đặc biệt cùng chính sách thuế của chính quyền Đàng Ngoài với các tàu, thuyền buôn ngoại quốc .
Để đảm bảo an toàn cho kinh đô, sau thời gian thực thi chủ trương đối ngoại tương đối thoáng mở, năm 1687 chính quyền Lê – Trịnh đã ra lệnh cấm thương nhân ngoại quốc, trong đó có Hoa thương, lưu trú trong kinh thành. Trong khi các thương nhân châu Âu gặp một số khó khăn trong việc thiết lập thương điếm thì giới Hoa thương phải chuyển về Phố Hiến hoặc khu vực ngoại vi Thăng Long. Nhưng dường như chính sách đó của Thăng Long không được thực hiện nghiêm ngặt. Theo W. Dampier: “Mặc dù đã có chiếu chỉ cấm đoán, những nhà buôn người Hoa vẫn không ngừng đi đến Kẻ Chợ để mua bán hàng hóa” .
Trong khi thực thi chính sách kiểm soát ngoại thương tương đối chặt chẽ, nhiều khả năng chính quyền Lê – Trịnh cũng đã cho phép một số thuyền buôn ra nước ngoài buôn bán. Trong tác phẩm Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài, A.de Rhodes từng nêu một số nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế trong quan hệ ngoại thương của Đàng Ngoài, nhưng chính ông ngay sau đó cũng từng xác nhận: “Tuy vậy, mỗi năm chúa phái tàu tới các nước Campuchia và Thái Lan bởi vì những nước này không xa Đàng Ngoài và tàu thuyền không rời khỏi bờ biển của họ, không cần ra xa biển cả”. Theo J.B.Tavernier, trong những chuyến đi đến nhiều vùng đất Đông Nam Á, chính ông đã từng gặp, giao tiếp với thương nhân người Việt. Họ là những người từ Đàng Ngoài đến. Ông đã gặp các thương nhân Việt ở Batavia, Bantam… họ đều là những người hiểu biết, rất lương thiện . Những cứ liệu lịch sử hiện nay cho thấy, vào thế kỷ XVI- XVIII thương nhân Việt, cả Đàng Ngoài và Đàng Trong, cùng với các hoạt động giao thương trong nước cũng đã chủ động cử thuyền buôn ra nước ngoài buôn bán. Thuyền buôn Việt đã tiếp tục đến các thương cảng miền Nam Trung Hoa, một số đến Nhật Bản nhưng tập trung hơn là các cảng Đông Nam Á. Hồ sơ ghi chép của hải quan Nhật Bản ở thương cảng quốc tế Nagasaki cũng như bản đồ phân bố các thương điếm nước ngoài ở Ayutthaya thế kỷ XVII là những minh chứng lịch sử tin cậy . Đối sánh với nhiều nguồn sử liệu quốc tế có lẽ cũng đã đến lúc chúng ta cần phải thay đổi một số quan niệm “truyền thống” về tính thiếu tích cực, chủ động của thương nhân Việt trong các hoạt động giao thương quốc tế. Theo quan điểm của chúng tôi, trong “thời kỳ hoàng kim” của hệ thống hải thương châu Á cùng với việc cử thương nhân, thuyền buôn ra nước ngoài buôn bán thì việc ứng đối thành công với các thương nhân ngoại quốc ngay trên chính địa bàn và thị trường dân tộc đã thể hiện rõ tính tích cực, bản lĩnh của thương nhân Việt.
Cũng cần phải nói thêm là, từ những thông tin mà J.B. Tavernier cung cấp, trên cơ sở phê phán cuốn du ký của ông, một số nhà nghiên cứu cho rằng vào thế kỷ XVI – XVII ở Việt Nam không có nền “thương mại tư nhân”. Tuy nhiên, dưới tác động của các mối giao thương trong nước, quốc tế sôi động thời bấy giờ điều chắc chắn là ở Việt Nam đã xuất hiện một tầng lớp thương nhân chuyên nghiệp. Tham gia vào các hoạt động kinh tế lúc đó hiển nhiên luôn có đội ngũ “quan lại – thương nhân” đại diện cho nhà vua hay phủ Chúa, nhưng bên cạnh đó cũng xuất hiện một tầng lớp thương nhân chuyên nghiệp xuất thân từ giới bình dân . Trong lịch sử, những hoạt động kinh tế mang tính tư nhân đã từng xuất hiện rất sớm. Đến thời Lê – Trịnh, các chúa Trịnh có phần tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân phát triển bằng việc hạn chế ban hành các điều luật tác động tiêu cực đến kinh tế tư nhân. Đối với thương nhân ngoại quốc, các tư liệu lịch sử cho thấy, chính quyền Lê – Trịnh luôn trọng đãi họ. J.B.Tavernier từng viết rằng: “vì rằng em tôi nhiều lần đi đến Đàng Ngoài, lần nào em tôi trở lại cũng được chào đón, lần sau trọng thị hơn lần trước. Do đó, điều nhà vua và các đại thần nhớ nhất về em tôi là cậu ấy luôn vui vẻ đánh bạc với vua và các đại thần, đôi khi chơi với số tiền lớn. Vì cờ bạc là may rủi nên có chuyến đi đến Đàng Ngoài em tôi bị thua hơn hai vạn đồng escu (tiềng vàng). Nhưng nhà vua là bậc rộng lượng không muốn để em tôi bị thua thiệt như thế, bèn tặng lại cho em tôi một số tặng phẩm để bù lại” .
Có một điểm lưu ý ở đây là người châu Âu cũng dành rất nhiều trang về Thăng Long, trụ sở của chính quyền trung ương, đồng thời nó cũng là trung tâm kinh tế lớn nhất Đàng Ngoài, là nơi tập trung nhiều đầu mối giao thương trong nước và khu vực. Chính vì thế Thăng Long là nơi thu hút rất đông người phương Tây, đặc biệt là thương nhân đến thăm dò thị trường, buôn bán. Nhiều công ty lớn của nền thương mại châu Âu đều cử người đến Thăng Long để tìm hiểu khả năng thương mại và lập thương điếm tại thành thị này. Mục tiêu về kinh tế của họ là nhằm xác lập được quan hệ thương mại với triều đình Lê – Trịnh. Điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố: thái độ của triều đình đối với hoạt động thương mại, hệ thống các tuyến giao thông vận chuyển hàng hóa, và quan trọng hơn hết là sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa của Thăng Long – Kẻ Chợ.
Từ thông tin đó, chúng ta có thể có nhiều suy nghĩ khác nhau về tư duy kinh tế của chính quyền Lê – Trịnh. Hơn thế, với không ít thương nhân, giáo sĩ ngoại quốc, chính quyền Đàng Ngoài còn cho phép họ được đi sâu tìm hiểu đời sống kinh tế, xã hội. Mặt khác, nhà vua các các quan lại cao cấp cũng là những người am hiểu biết về tình hình chính trị, kinh tế – xã hội bên ngoài . Hiển nhiên, khi đến Đàng Ngoài, một số người Âu cho rằng cư dân ở đây dường như thiếu chủ động và năng động trong giao thương quốc tế. Nhưng cũng có một sự thật là, Chúa Trịnh luôn có một đội thủy binh mạnh, bảo vệ an toàn chủ quyền lãnh hải đồng thời sẵn sàng đối chọi với các thế lực khu vực và phương Tây.
3. Thành phần xã hội, kỹ năng buôn bán
Do tính chất của một nước phong kiến phương Đông, hàng hóa buôn bán trên thị trường dường như là những sản phẩm độc quyền của Triều đình. Theo đó, khi thuyền buôn ngoại quốc đến, chính quyền Lê – Trịnh thông qua hệ thống kiểm soát an ninh, hải quan,… lập tức tiến hành kiểm tra số lượng, chủng loại, giá trị hàng hóa. Nguồn hàng có thể giữ trên tàu, thuyền hoặc chuyển về các cơ sở kinh tế (thương điếm) hay nhà kho của nước đó nhưng chưa thể trao đổi với thương nhân sở tại. Sau khi kiểm tra, hàng hóa phải được phép của chính quyền (vua, chúa, quan lại….) mới được đem ra thị trường tiêu thụ. Chính quyền Lê – Trịnh luôn dùng quyền lực của mình để mua trước sản phẩm xa xỉ và một số chủng loại hàng hóa đặc biệt thuộc sự quản lý của nhà nước như vũ khí, chất nổ , tiền đồng, bạc… Với các mặt hàng khác, chính quyền chỉ giữ độc quyền trong một thời hạn nào đó để ép giá còn sau đó có thể cho phép bán ra thị trường. Với hàng xuất khẩu, chính quyền Đàng Ngoài thường nắm độc quyền những sản phẩm quý hiếm như trầm hương, ngà voi, yến sào, quế và tơ lụa. Theo W.Dampier thì sơn sống cũng bị cấm xuất khẩu mặc dù nguồn nguyên liệu này có trữ lượng lớn. Như vậy, như các nguồn tư liệu được thể hiện ở trên, chính quyền Đàng Ngoài luôn coi trọng vai trò kinh tế đối ngoại và trực tiếp tham gia vào nhiều hoạt động giao thương quốc tế.
Điều đáng chú ý là, khi đem hàng đến Đàng Ngoài, sau khi vượt qua rào cản của cơ chế, thương nhân ngoại quốc đều có thể tham gia vào các hoạt động trực tiếp trên thương trường. Theo đó, ‘Hàng hóa đưa đến Đàng Ngoài bên cạnh bạc nén có diêm tiêu, lưu huỳnh, các loại dạ khổ rộng của Anh, những loại vải len tuyết xoắn, các thứ vải sơn, hồ tiêu và các loại gia vị, chì, súng thần công cỡ lớn… các thứ hàng hóa đem đến bán được trả bằng tiền mặt hoặc bằng hàng hóa khác tùy theo giao kèo”. Các nguồn tư liệu châu Âu cho thấy chúa Trịnh luôn có những “đơn đặt hàng” cụ thể với các thương nhân ngoại quốc. Trong thời kỳ xung đột Trịnh – Nguyễn, vũ khí, nguyên liệu chế tạo chất nổ luôn là đơn hàng được đặc biệt coi trọng.
Cũng cần chú ý là, trong quan hệ giao thương thời bấy giờ, giữa thương nhân phương Tây với thương nhân phương Đông nói chung và Đàng Ngoài nói riêng luôn có sự khác biệt trong cách thức buôn bán. Là những đại diện cho nền tư bản mới đang lên, các thương nhân châu Âu luôn hướng đến việc buôn bán quy mô lớn, thu được lãi cao để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của giới quý tộc, các xã hội thành thị giầu có, tiếp tục tích tụ tư bản và thúc đẩy kinh tế trong nước họ. Vì những lợi ích thương mại, họ không ngần ngại mua chuộc đội ngũ quan lại cũng như nhà cầm quyền phong kiến để được cấp phép và tạo điều kiện thuận lợi cho việc buôn bán. Mặt khác trong bối ảnh cạnh tranh gay gắt giữa các tập đoàn thương mại phương Tây với phương Đông việc được giành ưu tiên trong quan hệ ngoại thương với chính quyền sở tại là lẽ sống còn. Tình trạng nhũng nhiễu, hà lạm, sự tha hóa của giới quan chức, thể chế phương Đông trong đó có chính quyền Đàng Ngoài cũng cần được nhìn nhận trong bối cảnh đó.
Có thể nói, do những lợi ích thương mại, vào thế kỷ XVI – XVIII hầu hết các thành phần xã hội Đàng Ngoài đều ít nhiều bị cuốn hút vào các hoạt động giao thương trong nước và quốc tế. Nhưng trung tâm của những chuyển biến sôi động nhất là lưu vực sông Hồng. Thăng Long – Phố Hiến – Domea trở thành huyết mạch kinh tế chủ đạo của Đàng Ngoài. Hệ thống chợ vùng, chợ phiên cùng sự xuất hiện của các làng buôn đã đem đến sinh lực và diện mạo mới cho xã hội Đàng Ngoài trong suốt 3 thế kỷ.
Một điểm khá lý thú là các giáo sỹ, thương nhân, thủy thủ châu Âu luôn chú ý đến vai trò của người phụ nữ trong hoạt động trao đổi, buôn bán. Trong bối cảnh “đàn ông đi lính, đàn bà đi chợ” nhiều phụ nữ đã không khuôn mình trong các phiên chợ quê mà đã trực tiếp tham gia vào các hoạt động kinh tế sôi động ở đô thị, cảng thị. Theo W. Dampier thì: “Nhiều thương nhân ngoại quốc đã kiếm được bộn tiền bằng cách giao cho những bà vợ Đàng Ngoài và hàng hóa. Ở một xứ nghèo như Đàng Ngoài việc có tiền chạy chợ quả thật là một lợi thế lớn và các bà vợ này khi có vốn trong tay sẽ tìm đám thợ nghèo làm những lúc nông nhàn. Theo cách này họ có được những thứ vải dệt tốt hơn trong khi chi phí lại thấp hơn nhiều so với thời điểm tàu cập bến”.
Không chỉ thạo nghệ buôn bán, gây dựng vốn, nhiều phụ nữ Đàng Ngoài còn tỏ ra rất sàng sỏi trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ. Trong du ký, W. Dampier đã cho biết: “Đổi tiền là một nghề quan trọng ở đây. Làm nghề này là phụ nữ – những người khéo léo và khôn ngoan đặc biệt về nghề này. Họ thực hiện công việc về đêm và biết cách sinh lời giỏi chẳng kém các nhà buôn cổ phần khôn nhất ở London”. Hơn thế họ tỏ ra rất thành thục trong kỹ năng giao tiếp với quan lại. “ Muốn bán hàng hóa của họ, người Trung Quốc nhờ đến các quan… Các quan mua những gì lớn lao và đắt tiền. Những thứ gì giá trị ít hơn, các quan đã có những phụ nữ thân tín, rất thạo nghề buôn, họ nhận một hay hai lô hàng để lấy một số lãi”.
Tuy nhiên, nhìn nhận tình hình kinh tế Đại Việt, nhận thấy mức sống của người dân nơi đây, các lái thương châu Âu luôn phải tính toán thật chi li để có thể kiếm lời. Theo đó, mối lời không phải từ nguồn hàng mang đến mà từ việc mua nguyên liệu, hàng hóa mang đi. Thực trạng đó được thể hiện rõ nét qua nhận xét của thương nhân Hà Lan “Lãi là ở những chuyến cất hàng ở đây mang đi”, hay như chính P. Poivre cũng cho rằng rất khó bán các mặt hàng của châu Âu sản xuất tại thị trường bản địa. Do vậy, chỉ “khi mua hàng hóa trở về mới có lãi”. Bên cạnh đó trong mối quan hệ giao thương với Đàng Ngoài, các thương nhân châu Âu cũng luôn “trăn trở” với tình trạng buôn bán nhỏ, đoản vốn của giới doanh thương Việt. Họ thường đánh đồng tình trạng đó với sự nghèo khó của nền kinh tế trong nước. Biểu hiện cụ thể là thương nhân ngoại quốc luôn gặp tình trạng chậm thanh toán. Điều đó khiến nhiều tập đoàn doanh thương quốc tế phải suy tính đến việc thiết lập quan hệ lâu dài với Đàng Ngoài, thậm chí phải đối mặt với nguy cơ phá sản.
Mặc dù vậy, nhưng khi buôn bán với Đàng Ngoài không ít thương nhân quốc tế đã dành những nhận xét đầy thiện cảm về thương nhân bản địa. Theo J.B. Tavernier thì: “Buôn bán với Đàng Ngoài thì thích thú hơn và có lợi hơn với người Trung Quốc. Người Trung Quốc nếu có cơ hội lừa đảo được thì lừa đảo ngay, khó mà có thể đối phó với những mánh khóe của họ được… Ở trên thế gian này không có hạng lái buôn nào lại tinh ma đến thế. Cái gì họ cũng ưng, cái gì họ cũng mua… Nhưng với người Đàng Ngoài, họ tròn trặn trong việc mua bán. Buôn bán với họ thật dễ chịu” . Theo ông, thương nhân ở đây rất thật thà. Ghi chép của Giáo sĩ Buzomi, người đã có mặt ở hầu hết các nước Đông Á, khi so sánh với một số nước trong vòng cung văn minh Trung Hoa, đã có những đánh giá về người Việt: “Họ không quá nghiêng về văn chương, tính tình cũng không thâm hiểm như người Trung Quốc. Họ không quá nghiêng về quân bị, tình tình cũng không độc ác như người Nhật”. W. Dampier cũng cho rằng: “Người Đàng ngoài là những người phục vụ thật tốt và tôi cho rằng họ tốt nhất trên khắp miền Đông Ấn”.
Đó là những nhận xét, so sánh đáng để chúng ta suy nghĩ và từ đó có thể có được những nhìn nhận khách quan, toàn diện hơn về truyền thống, tư chất cũng như nhân cách của giới doanh nhân Việt.
4. Phạm vi và mức độ ảnh hưởng
Như trình bày ở trên, vào thế kỷ XVI – XVII, hầu hết các cường quốc thương mại phương Tây đều đến buôn bán với Đàng Ngoài. Cùng với Bồ Đào Nha, hai nước Hà Lan và Anh cũng từng bước xác lập quan hệ thương mại với Đại Việt. Nhanh chóng giành ưu thế ở Biển Đông, VOC từng bước xác lập vị thế buôn bán ở Đông Á. Năm 1636, VOC lập thương điếm đầu tiên ở Hội An, năm sau tiến ra Đàng Ngoài rồi lập thêm những cơ sở buôn bán mới ở Phố Hiến, Thăng Long. Để có thể tiếp tục chiếm lĩnh thị trường Đàng Ngoài, người Bồ Đào Nha đã tìm mọi cách ngăn cản thương nhân VOC, EIC. Sự cạnh tranh khốc liệt đó còn diễn ra trên phương diện chính trị và quân sự. Các nước phương Tây nhất là Bồ Đào Nha và Hà Lan đã tìm cách tranh thủ thiện cảm của nhà cầm quyền Đàng Ngoài với “lễ ra mắt” thường là vũ khí quân sự. Theo W.Dampier với Đàng Ngoài “Nền thương mại chính của nước này lại do người Trung Quốc, người Anh, người Hà Lan và những thương nhân ngoại quốc khác nắm giữ – Những người đặt thương điếm cư trú hoặc đên Đàng Ngoài buôn bán theo mùa. Họ xuất khẩu đến Đàng Ngoài các loại hàng hóa của nước họ và nhập khẩu các mặt hàng thu mua được từ Đàng Ngoài”.
Là một cường quốc thương mại, Hà Lan ngày càng lấn át Bồ Đào Nha trên các tuyến hải thương Đông Á. Việc Bồ Đào Nha bị loại trừ ra khỏi thị trường Nhật Bản sau năm 1639 vô hình chung đã đem lại những điều kiện thuận lợi cho thương nhân Hà Lan, Trung Quốc… trong các hoạt động giao thương quốc tế. Mặc dù tác động mạnh mẽ của chính sách phong tỏa (sakoku) của chính quyền Edo (1600 – 1868), nhưng Đàng Ngoài đã đem lại sự phồn thịnh cho không ít tập đoàn thương mại đồng thời là cơ sở khiến cho các tập đoàn đó tiếp tục duy trì hoạt động ở phương Đông. Trong nhận thức của giới thương nhân phương Tây, Nhật Bản vẫn là thị trường lớn trong khi đó khu vực thị trường Đàng Ngoài được nhìn nhận “là khách hàng nhỏ bé đối với những hàng hóa châu Âu”. Từ Đàng Ngoài, người Anh từng muốn “tái lập quan hệ với Nhật Bản – một nền mậu dịch lợi nhuận cao và luôn là sự khao khát không chỉ người phương Đông mà cả người châu Âu chúng ta” (W.Dampier nhận xét).
Tuy nhiên những biến động chính trị ở trong nước và khu vực đã có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động giao thương quốc tế. Các hoạt động mang tính vùng và liên vùng vốn là bản chất của hoạt động thương mại bị hạn chế đáng kể do diễn tiến của những điều kiện kinh tế không thật thuận lợi. Cuộc xung đột Trịnh – Nguyễn cũng đã gây nên những trở ngại lớn cho việc thiết lập quan hệ giao thương giữa các vùng, miền. Theo W. Dampier thì “cuộc nội chiến giữa Đàng Ngoài và Đàng Trong quả thật ngăn trở kế hoạch cử tàu đi Đàng Trong cũng như các quốc gia Champa và Cao Miên – những vùng đất ít được biết đến. Nhưng những khó khăn trên cũng không phải là quá lớn mà có thể vượt qua được bằng các giải pháp và sự mẫn tiệp. Bên cạnh đó, những thiệt hại có thể được bù đắp bằng các khoản lợi nhuận cao” .
Vào thế kỷ XVI – XVIII, Đàng Ngoài tiếp tục duy trì quan hệ với nhiều quốc gia khu vực. Nhựa thông với trữ lượng phong phú và giá rẻ của Đàng Ngoài được nhiều thương nhân quốc tế ưa chuộm. Nhiều khả năng để phát triển công nghệ dệt người Đàng Ngoài đã nhập thuốc chữa bệnh, một số loại hương liệu, xạ hương, đại hoàng, vàng từ vương quốc Boutan và Vân Nam (Trung Quốc) để sử dụng trong nước hoặc tái xuất đi các nước khác. Trong thời gian đó, người Hà Lan cũng mua nhiều hồi từ Đàng Ngoài sang Batavia để cất rượu mạnh. Trong những nổ lực thương mại, thương nhân Anh từng muốn thiết lập một cơ sở buôn bán ở Tenan (Tiên An nay thuộc Hải Ninh, tỉnh Quảng Ninh) để giao thương với Trung Quốc. Điều đó có thể nhận thấy là thông qua quan hệ với Đàng Ngoài các thương nhân châu Âu đã phát hiện ra mối quan hệ giữa Đàng Ngoài với khu vực thị trường lớn, giàu tiềm năng ở miền Nam Trung Quốc. Do đó khả năng tiêu thụ hàng hóa Anh có phần hạn chế, thương điếm Anh ở Đàng Ngoài đã cố gắng mở rộng thị trường khu vực. Bức thư của thương điếm Anh gửi từ Kẻ Chợ ngày 07/01/1683 ghi rõ: “Họ đang cố gắng bán những đồ vật do Anh chế tạo, nếu họ được phép mang dạ vào Trung Quốc thì hàng năm có thể bán được một số lượng lớn kể từ khi người Mãn Thanh chiếm Vân Nam”. Để tăng nguồn thu, thương nhân Anh cũng mua nhiều gốm sứ để xuất khẩu sang thị trường khu vực. W. Dampier xác nhận “Những người châu Âu đã từng bán những chén này ở nhiều nơi trên đất Mã Lai. Vì thế thuyền trưởng Pool đã cho mua tới gần 100.000 chiếc trong chuyến đi đầu tiên của ông đến Đàng Ngoài với hy vọng sẽ bán lại tại Batavia khi ông quay lại đấy. Nhưng do không tiêu thụ được nên ông đã chở sang Bencouli thuộc đảo Sumatra, tại đó ông bán chúng với một giá rất hời cho toàn quyền Bloom. Ông này đem phần lớn số hàng trên bán cho dân Mã Lai và được lãi to” . Ông cũng cho biết thêm “ Thuyền trưởng Weldom cũng mua tới 30 hoặc 40 nghìn chiếc để chở đến pháo đài St. George nhưng tôi không biết ông ta đã bán chúng đi như thế nào. Các sản phẩm sứ Trung Quốc vốn tinh xảo hơn đã gây nên sự ế ẩm của gốm sứ Đàng Ngoài ở khắp mọi nơi. Tuy nhiên, ở Rackan trên vịnh Bengal sản phẩm này bẫn được yêu thích và bán khá chạy” .
Vào thế kỷ XVII – XVIII, cùng với thương nhân phương Tây, thương nhân một số quốc gia Đông Nam Á trong đó có giới doanh thương Thái Lan vẫn tiếp tục cho thuyền đền Đàng Ngoài buôn bán. Mặt khác, thương nhân quốc tế cũng góp phần kết nối thị trường giữa hai quốc gia. Bên cạnh những sản phẩm thương mại, giới doanh thương Anh còn mua các sản phẩm văn hóa để đưa sang Thái Lan và các nước láng giềng. Theo W.Dampier thì trong chuyến hàng năm 1688: “còn có hai chiếc chuông, mỗi chiếc nặng chừng 500 cân, đặt người Đàng Ngoài đúc ở Kẻ Chợ để đem về cho chúa Falcon – vị thượng thư cao nhất của vua Thái Lan – dùng trong một số nhà thờ ở nước Thái Lan”. Tác giả cũng cho biết các quả chuông đó là do vua Thái Lan đặt hàng. Theo nguồn tư liệu phương Tây, quan hệ với Đàng Ngoài là do triều đình Thái Lan trực tiếp chỉ đạo . Trong quá trình buôn bán, nhiều thương nhân ngoại quốc cho rằng xứ Đàng Ngoài không có mỏ vàng, bạc nên rất hiếm nguyên liệu để đúc tiền. Đó là một trong những trở ngại trong quan hệ giao thương quốc tế. Do thiếu kim loại quý, họ rất cần vàng, bạc và đồng trong trao đổi, buôn bán. Để có tiền và vàng, bạc người Đàng Ngoài phải dùng nhiều loại thương phẩm trong đó có tơ lụa để đổi lấy bạc. J.B. Tavennier cho biết: “Thường họ hay dùng đồng tiền reales của Tây Ban Nha. Vàng và Bạc đó là do Trung Quốc và Nhật Bản đem đến cho họ vì họ bán phần lớn tơ của xứ họ cho những nước ấy. Tơ lụa cùng với xạ hương là những tài nguyên chủ yếu của họ”. Học giả Charles B.Maybon cũng xác nhận: “Món lời nhất ở đây là người Hà Lan đã thu được là đổi diêm tiêu, lưu huỳnh, đinh hương lấy tơ sống để gửi đi Nhật Bản”. Theo W. Dampier thì “Trong số các thương nhân Trung Quốc ở Đàng Ngoài cơ 2 người thường đem tơ sống và các sản phẩm lụa sang bán ở Nhật Bản. Các sản phẩm họ mang về Đàng Ngoài chủ yếu là bạc”. Nhưng để tăng nguồn thu, nhiều thương nhân ngoại quốc còn tranh thủ tìm kiếm thêm nguồn lợi từ các sản phẩm khác. Đến Đàng Ngoài năm 1688, chứng kiến nạn đói diễn ra, thương nhân Anh đã tranh thủ thời cơ ấy để tìm kiếm lợi nhuận trên các tuyến buôn bán ngắn. “Cả thương nhân chúng ta và những người bản địa tập hợp nhau đi thành những đoàn nhỏ về những tỉnh lân cận để thu mua gạo, một phần để dành sinh hoạt, còn lại để bán ra chợ”.
Trong cuốn Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài, Alexandre de Rhodes cho rằng khoảng trước năm 1627, đã có nhiều người Nhật và Hoa thường đến Đàng Ngoài buôn bán. Ông viết “Người Nhật xưa kia đem bạc rất nhiều tới đây để buôn tơ lụa, họ đem theo nhiều gươm đao và đủ các loại vũ khí để bán”. Nhưng không chỉ nhập vũ khí từ phương Tây và Nhật Bản, hàng hóa ngoại quốc đã dần thâm nhập vào nhiều tầng lớp xã hội và hiển nhiên giới quý tộc cao cấp, quan lại, những người giầu có… là chịu ảnh hưởng mạnh nhất của các sản phẩm kinh tế, đồng thời cũng là các sản phẩm văn hóa bên ngoài.
Bên cạnh đó, các hoạt động giao thương quốc tế cũng đã tác động không nhỏ đến nếp sống và phương thức sản xuất của nhiều tầng lớp xã hội, trong đó có giới thương nhân và thợ thủ công. Theo W. Dampier: “ Quần áo của người Đàng Ngoài may bằng lụa hay bằng bông sợi. Dân nghèo và lính hầu như chỉ mang đồ vải sợi nhuộm nâu. Những người giàu sang và các quan lại thường mặc đồ dạ khổ rộng của Anh. Các màu chủ yếu là đỏ và xanh. Khi đến bái yết nhà vua họ mặc những chiếc áo thụng rủ tận gót và không ai dàm ra trước mặt vua mà không mặc loại áo như thế”. Trong thư gửi cho Bantam đề ngày 4/10/1678, đại diện thương điếm Anh ở Đàng Ngoài viết rằng “Họ đòi hỏi thứ rượu vang ngon hơn và thứ bia ngon hơn”. Theo ghi chép của W. Dampier thì những người thợ thủ công của Đàng Ngoài đều: “khéo tay, nhanh nhẹn, tháo vát và tinh nhanh trong tất cả mọi nghề thủ công họ làm… tiền và những thứ được người ngoại quốc, nhất là người Anh và người Hà Lan, mang đến đây làm cho họ sông được bởi thợ thuyền không có tiền vốn để tự sản xuất. Vì thế các nhà buôn nước ngoài phải đặt tiền trước cho họ, ít ra là một phần ba hoặc một nửa giá trị hàng hóa đặt hàng”.
Tình hình buôn bán của Đại Việt diễn ra sôi động trong thế kỷ XVII, song vào cuối thế kỷ này, do nhiều nguyên nhân (có cả nguyên nhân do khó khăn và mâu thuẫn nội tại của các công ty Đông Ấn), người Hà Lan đã dần đóng cửa các thương điếm và chấm dứt quan hệ thương mại với Đại Việt. Năm 1700, VOC chỉ thị cho giám đốc Jacob van Loo đóng cửa vĩnh viễn thương điếm ở Kẻ Chợ và Phố Hiến, rút hết nhân viên, thiết bị về Batavia. Còn người Anh, thông qua EIC, từ những năm 1613, 1617, đã có những chuyến đi thăm dò ở Đàng Trong nhưng không thành công. Năm 1672, nằm trong chiến lược thành lập một tuyến buôn bán quốc tế Đông Á gồm Nhật Bản – Đài Loan – Đàng Ngoài, lần đầu tiên thuyền buôn Anh đã cập bến Đàng Ngoài. Vào tháng 5/1672, EIC đã cử 3 chiếc tàu từ Bantam, trong đó Experiment và Return đi Đài Loan, sau đó tới Nhật Bản, còn tàu Zant đi tới Đàng Ngoài. Tàu Zant do thuyền trưởng Parrick chỉ huy, cùng phái bộ gồm 6 người tới Kẻ Chợ . Đến đầu thế kỷ XVIII, sau sự kiện ở Côn Lôn và việc mở rộng thương cảng Canton (Quảng Đông, Trung Quốc) khiến người Anh cũng chấp dứt sự hiện diện ở đây và sang thị trường Trung Quốc. Còn Bồ Đào Nha, vào thế kỷ XVIII về cơ bản các thương nhân đã không còn lui tới Đàng Ngoài trừ một số trường hợp cá biệt.
5. Một vài nhận xét
Vào thế kỷ XVI – XVIII, là một thị trường giàu tiềm năng, lại nằm trên tuyến chính của hệ thống giao thương châu Á, Đại Việt đã là điểm đến của nhiều đoàn thuyền buôn châu Á, châu Âu. Trong những năm tháng sống, tiếp xúc, hòa nhập… với môi trường văn hóa, con người và xã hội Đàng Ngoài, nhiều thương nhân, giáo sỹ, nhà thám hiểm phương Tây đã có ấn tượng sâu sắc về tiềm năng kinh tế cùng những hoạt động thương mại của người Việt. Các hồi ký, ghi chép của người Âu được viết trong nhiều hoàn cảnh, với những mục tiêu, quan điểm khác nhau… nhưng chắt lọc lại đó là những nguồn sử liệu quý, góp phần phác dựng lại bức tranh chân thực về bối cảnh, đời sống kinh tế – xã hội Đại Việt đương thời.
Các nguồn sử liệu phương Tây cũng cho thấy sự hưng khởi của Đàng Ngoài thế kỷ XVI – XVIII. Đó là một hiện tượng lịch sử rất đáng chú ý. Thật khó có thể cho rằng, sự hưng khởi đó chỉ là kết quả của những vận động, chuyển biến kinh tế – xã hội nội tại, tự nhiên. Sự thịnh đạt của các đô thị, cảng thị ở đây gắn liền với các hoạt động ngoại thương, với nhiều chủ trương, chính sách mà giới cầm quyền theo đuổi. Sự xuất hiện của các cảng thị như Phố Hiến đã bổ sung thêm một mô hình mới cho thành thị Việt Nam truyền thống. Ngay cả kinh đô Thăng Long cũng đảm đương thêm những chức năng kinh tế – xã hội mà thời đại đem lại. Trong thời gian đó, dưới tác động của những nhân tố quốc tế, nền kinh tế Đàng Ngoài vừa có nhiều biến đổi vừa diễn ra quá trình tái cấu trúc. Để thích ứng với yêu cầu của thị trường quốc tế, chất lượng của nhiều sản phẩm hàng hóa trong nước đã được nâng cao. Cùng với sự hình thành một tầng lớp thương nhân chuyên nghiệp thì sự giàu lên của giới quý tộc, quan lại và một bộ phận thị dân cũng góp phần thúc đẩy sức mua của thị trường nội địa cùng năng lực mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại. Trong hơn 2 thế kỷ, bức tranh kinh tế – xã hội Đàng Ngoài đã bừng lên những sắc diện mới.
Hiển nhiên, với tư cách là thủ phủ của Đàng Ngoài, Thăng Long – Kẻ Chợ đã diễn ra nhiều chuyển biến. Việc khai thác các nguồn tư liệu phương Tây đã góp phần làm rõ diện mạo của kinh đô, sự chuyển biến của Thăng Long, kết cấu kinh tế – xã hội, thực trạng đời sống văn hóa của giới thị dân cũng như một phần chính sách và những biện pháp thực thi của chính quyền Lê – Trịnh. Có thể thấy, chính quyền Lê – Trịnh đã thi hành một chính sách mở cửa hạn chế nhưng cũng tương đối khoan nhượng đối với các thế lực phương Tây. Chính sách đó về cơ bản đã đáp ứng, thích nghi được với các biến đổi chung của đời sống chính trị, kinh tế – xã hội khu vực và điều quan trọng là đã bảo vệ được chủ quyền dân tộc.

Share.

About Author

Leave A Reply