GIẢI THÍCH MỘT SỐ TỪ NGỮ THƯỜNG DÙNG TRONG GIA PHẢ, BIA MỘ … NNC. Trịnh Duy Tuân

0

GIẢI THÍCH MỘT SỐ TỪ NGỮ THƯỜNG DÙNG

TRONG GIA PHẢ, BIA MỘ …

                                                                     Trịnh Duy Tuân

Không ít lần tôi được nghe nhiều người kể về dòng họ của mình, khoe với tôi rằng: “Cụ tổ nhà tôi ngày xưa làm quan to lắm, là Nguyễn quý công cơ đấy” (người họ Lê thì khoe là Lê quý công v.v..). Và khi nói, thường nhấn mạnh hai từ quý công như một minh chứng cho cái gọi là làm quan to (!) Có người còn nói một cách đầy hãnh diện: “Các cụ nhà tôi đều làm to cả, cụ nào cũng quý công”.

Trong lần họ Trịnh cùng UBND huyện Vĩnh Lộc tổ chức lễ kỷ niệm lần thứ 447 ngày mất của Minh Khang Thái vương Trịnh Kiểm và cuộc gặp mặt anh em họ Trịnh tại FLC Sầm Sơn, Thanh Hóa vào ngày 16/3/2017, tôi thấy một số anh em họ ta, nhất là các cháu tuổi trẻ cũng còn hiểu biết mơ hồ về một số từ ngữ Hán trong gia phả, bia mộ, bài vị …

Do mối quan hệ đặc thù giữa Việt Nam và Trung Quốc nên trong một thời gian khá dài, hàng thiên niên kỷ, người Việt Nam dùng chữ Hán làm công cụ giao tiếp, nhất là trong các loại văn bản hành chính, khoa học… Từ đầu thế kỷ XX, cha ông ta đã thấy được sự tiện lợi của chữ Quốc ngữ do các giáo sĩ phương Tây truyền bá nên đã phát động phong trào sử dụng chữ Quốc ngữ sâu rộng trên  toàn quốc. Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, chữ Quốc ngữ đã trở thành con chữ chính thức trong hoạt động giao tiếp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam). Từ đó trở đi, nhất là cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, chữ Hán không còn thông dụng nữa. Vì vậy mới xảy ra những trường hợp như tôi kể ở trên.

Hiện nay, còn không ít các tài liệu như gia phả, bản ghi chép ngày giỗ, bia mộ … của nhiều gia đình, dòng họ được các cụ ngày xưa ghi bằng chữ Hán. Các gia đình, dòng họ đã phiên âm sang tiếng Việt và dịch nghĩa. Nhưng vẫn tồn tại những cách hiểu nhầm như tên húy, tự, hiệu, quý công …

Thể theo đề nghị của một số bà con, nhất là các cháu trong họ, để những ai trong họ và độc giả chưa hiểu một cách rõ ràng một số từ ngữ ấy, tôi xin bước đầu nêu những hiểu biết của riêng mình để bà con trong họ, ngoài làng tham khảo. Có gì sai sót, mong bà con và các bậc túc nho chỉ giáo. Ai có điều gì cần trao đổi, xin email qua địa chỉ sau:

tuantd.thptdongson1@thanhhoa.edu.vn

I- Về bản ghi ngày giỗ (kị)

Ở quê tôi (Thanh Hóa) đang còn không ít văn bản ghi ngày giỗ bằng chữ Hán viết trên gỗ được sơn son thếp vàng hoặc trên tấm đồng (xem hình 1 và hình 2).

8


Hình 1. Bản ghi ngày giỗ của một gia đình họ Trịnh

 

2

 

Hình 2. Bản ghi ngày giỗ của họ Doãn Trọng

Xin phiên âm một câu để giải thích

* Bản của gia đình họ Trịnh,

Hàng dọc đầu tiên phía bên phải:

高祖考鄭貴公諱 X 字福 Y   七 月十一日忌 墓在同拜處

Cao tổ khảo Trịnh quý công húy X (xin được phép giấu tên) tự Phúc Y (giấu tên). Thất nguyệt thập nhất nhật kị. Mộ tại bái đồng xứ.

* Bản của họ Doãn Trọng:

Ba hàng dọc đầu tiên bên phải nêu mục đích làm văn bản này.

Hàng dọc thứ 5 từ phải sang trái ghi như sau:

尹公號福 X 府君     九月二十三日

Doãn công hiệu Phúc X phủ quân .    Cửu nguyệt nhị thập tam nhật.

Xin lấy bản của gia đình họ Trịnh, bản được viết đầy đủ, rõ ràng hơn để giải thích.

Cao tổ khảo Trịnh quý công húy X (giấu tên) tự Phúc Y (giấu tên). Thất nguyệt thập nhất nhật kị. Mộ tại bái đồng xứ. 

+ Cao là kị (cụ 5 đời), cụ 4 đời là tằng, ông (3 đời) là tổ, khảo là cha (khi cha mất mới gọi là khảo, khi còn sống gọi là phụ).

Cao tổ khảo (nếu viết đầy đủ sẽ là cao tằng tổ khảo. Đây là cách viết tắt). là cụ 5 đời, quê tôi thường gọi là kị.

+ Trịnh quý công

Chữ công ở đây có nghĩa là ông. Chữ quý nghĩa của nó là quý trọng, yêu mến. Chữ quý dùng trong trường hợp này để thể hiện tình cảm quý trọng, mến yêu, không phải dịch nghĩa (có những bản không dùng chữ quí như bản của họ Doãn, chỉ viết Doãn công). Chữ Trịnh là họ Trịnh.

Như vậy Trịnh quý công  có nghĩa là ông họ Trịnh.

+ Húy X, tự Phúc Y

Húy là tên thường gọi, tự là tên chữ (sẽ giải thích ở phần sau).

Vậy, nghĩa của toàn câu “Cao tổ khảo Trịnh quý công húy X (giấu tên) tự Phúc Y (giấu tên). Thất nguyệt thập nhất nhật kị. Mộ tại bái đồng xứ.

Sẽ là:

Kỵ (tức cụ 5 đời) họ Trịnh, tên thường gọi là X, tên tự là Phúc Y. Kị ngày 11 tháng 7. Mộ đặt tại cánh đồng Bái.

Hay:

Kỵ (tức cụ 5 đời) Trịnh X, tên tự là Phúc Y. Kị ngày 11 tháng 7. Mộ đặt tại cánh đồng Bái.

Với câu trên, ta có thể gặp trường hợp tương tự như sau:

      Hiển tổ khảo Trịnh quý công húy X (giấu tên) tự Phúc Y (giấu tên) thụy Bàng Biên phủ quân ….

Chữ hiển dùng để chỉ sự sang trọng, vẻ vang. Chữ này không cần dịch. Thông thường, để số lượng chữ bớt đi, bắt đầu từ ông nội trở xuống, người ta mới viết thêm chữ hiển.

Thụy  là tên cúng cơm, còn gọi là tên hèm (sẽ giải thích ở phần sau).

 Phủ quân: Tự điển Hán Việt của Thiều Chửu giải nghĩa phủ quân là: mình tự xưng cha mình là phủ quân. Từ phủ quân ở đây cũng không cần dịch.

Nghĩa câu này là: Ông (nội) họ Trịnh, tên thường gọi là X, tên tự là Y, tên cúng cơm là Bàng Biên…..

Với các cụ ông người ta thường viết như vậy. Còn các cụ bà thường được  viết như sau:

Hiển tổ tỉ Lê quý thị húy X, hiệu Từ Diệu.

Tổ là bà, tỉ là mẹ (mẹ còn sống gọi là mẫu, khi mất gọi là tỉ). Hiệu là tên hiệu.

Nghĩa của câu này là: Bà (nội) họ Lê, tên thường gọi là X, tên hiệu là Từ Diệu.

Cũng có gia đình, sau tên hiệu còn thêm chữ nhụ nhân.

Từ này, Thiều Chửu giải nghĩa: Vợ quan đại phu gọi là nhụ nhân, nghĩa là người ấy thuộc về của chồng, không dám tự chuyên vậy, đời sau đều gọi vợ là nhụ nhân. Từ đời nhà Tống trở xuống đều dùng chữ nhụ nhân làm cái tên hiệu phong các vợ quan.

Trong trường hợp này, từ nhụ nhân cũng không cần dịch.

Lưu ý:

* Khi viết về người đã khuất thì nam giới, sau tên húy là tên tự. Tên tự thường được mở đầu bằng chữ “Phúc” ; nữ giới sau tên húy là tên hiệu. Tên hiệu thường  được mở đầu bằng chữ “Từ”. Trong thực tế, có nhiều cách viết khác nhau. Tôi chỉ nêu một cách viết rất phổ biến mà tôi thường gặp.

* Trong một số gia phả, ở phần cuối cùng có ghi chép các ngày giỗ. Cách viết trong gia phả cũng giống như cách viết trên các chất liệu gỗ, đồng như đã đề cập ở trên.

Một bản ghi ngày giỗ thường như sau (chữ Hán, viết theo hàng dọc, từ phải sang trái) :

* Phần đầu là ngày tháng năm làm văn bản này.  Ví dụ: Tự Đức tam niên, nghĩa là vào niên hiệu Tự Đức thứ 3, (1850).

* Tiếp theo là một đoạn viết về mục đích, khái quát nội dung như: Bản này ghi chép về tên húy, tên tự, tên hiệu, tên thụy cùng ngày kị, nơi đặt mộ của các bậc tổ tiên để lưu truyền về sau.

* Phần chính của văn bản

Ghi từ cụ ông cụ bà xa đời nhất. Thông thường mỗi hàng dọc là một người, hết cụ ông đến cụ bà. Mỗi hàng dọc được chia là 2 phần. Phần trên ghi tên húy, tự (cụ ông) hoặc hiệu (cụ bà) và tên thụy. Phần dưới ghi nơi cất mộ, ngày kị. Chữ phần trên thường to hơn chữ phần dưới. Phần dưới có khi được viết thành 2 hàng dọc.

Xem ví dụ  sau (từ hàng dọc, xin chuyển sang hàng ngang cho dễ trình bày):

高曾祖考鄭貴公諱岳字福丙瑞明光    墓在拜同處
   二月初一日忌
Cao tằng tổ khảo Trịnh quý công húy Nhạc tự Phúc Bính, thụy Minh Quang Mộ tại Bái đồng xứ
Nhị nguyệt sơ nhất nhật kị

 

Cứ như vậy, hết cụ ông đến cụ bà xa đời nhất thì đến cụ ông, cụ bà đời kế tiếp cho đến đời gần nhất (thường là cha mẹ). Nếu trong một đời nào đó mà 1 trong 2 cụ còn sống thì người ta bỏ trống 1 hàng để sau này bổ sung.

 

Về cụ bà, có thể cụ ông có trên một bà. Thường xảy ra hai trường hợp sau:

+ Một cụ ông có vợ cả, vợ lẽ. Vợ cả gọi là chính thất (政室), các bà vợ lẽ gọi là á thất (亞室) hoặc trắc thất (側室)…

+ Một cụ ông có 2 đời vợ, đời vợ trước mất, lấy bà sau làm vợ kế. Người vợ trước của cụ, người ta có thể viết là tỉ (妣) hoặc chính tỉ (政妣). Người vợ sau, người ta thường viết là kế thất (繼室)…

Trong trường hợp gia đình ông H có người anh trai, em trai, em gái mất khi còn nhỏ hoặc khi chưa có con v.v.. người ta cũng ghi vào đây để nhớ ngày giỗ.

Nam giới, nếu là anh thì ghi thêm chữ đường bá và được viết ở hàng trước ông H, nếu là em, ghi thêm chữ đường thúc và được viết ở hàng sau ông H. Nữ giới, chữ tỉ thay bằng chữ và được viết ở hàng sau ông H.

Xin tóm lại cách gọi các đời như sau:

 

Đời Cụ ông Cụ bà
Cụ trên 5 đời Cao cao tằng tổ khảo Cao cao tằng tổ tỉ
Cụ 5 đời (kị) Cao tằng tổ khảo Cao tằng tổ tỉ
Cụ 4 đời (cụ hoặc cố) Tằng tổ khảo Tằng tổ tỉ
Cụ 3 đời (ông) Tổ khảo Tổ tỉ
Cha, mẹ khảo Tỉ


II- BIA MỘ

 


4                3 

        Hình 3                                                            Hình 4

               Hai tấm bia mộ Download trên mạng internet

Có nhiều cách ghi trên bia mộ. Ở dạng đầy đủ nhất, trong bia có các nội dung sau:

Theo hàng dọc, ở giữa bia là tên người mất, hưởng thọ. Hai bên trái, phải dùng để ghi ngày tháng năm sinh, mất và tên người được giao việc thờ cúng người dưới mộ hoặc người bảo quản ngôi mộ.

Hầu hết các bia chỉ ghi họ tên người mất và ngày mất. Một số gia đình do kiêng nên không ghi tên húy. Xin trình bày một cách ghi bia mộ như sau:

 


III- Bài vị

Bài vị, còn gọi là linh vị, thần chủ… là một bản ghi tên người được thờ cúng, thường đặt sau bát hương hoặc đặt trong ngai thờ.

Hãy xem các hình  5, 6, 7 dưới đây:

 567

Nhìn chung, một bài vị đầy đủ ghi gần giống như bia mộ, chỉ khác là chữ mộ được thay bằng chữ vị, hay linh vị, thần vị, thần chủ…

Xin đọc và dịch các chữ trong từng hình để chúng ta cùng tham khảo:

Hình 5: Sung Tích thôn hiển khảo Trần tộc thần vị.

Nghĩa là:    Thần vị của cha, họ Trần, thôn Sung Tích.

Hình 6: Thành hoàng bản cảnh Chử Đồng Tử Thánh quân cập nhị vị phu nhân.

Nghĩa: Thành hoàng làng, Thánh quân Chử Đồng tử cùng hai bà vợ.

Hình 7:

* Hai chữ hàng ngang trên cùng là Phụng vị: Tương đương với nghĩa phụng thờ.

* Tám chữ thuộc hàng dọc ở giữa:

+ Năm chữ đầu tiên: Hiển khảo Nguyễn Văn Ninh (hoặc Trữ. Chữ này có 2 âm đọc). Nghĩa: Cha là Nguyễn Văn Ninh (hoặc Trữ).

+ Ba chữ cuối: chi linh vị : nghĩa là  Linh vị.

* Năm chữ thuộc hàng dọc bên phải: Chính tỉ Thân Thị Gian. Nghĩa: mẹ là Thân Thị Gian.

* Năm chữ thuộc hàng dọc bên trái: Kế thất Nguyễn Thị Chất (hoặc Chí. Chữ này có 2 âm đọc). Nghĩa: Mẹ kế là Nguyễn Thị Chất.

III- Tên húy, tự, hiệu, thụy

1- Tên húy:

Tên húy là tên cha mẹ đặt cho từ lúc còn nhỏ, ta còn gọi là tên tục. Ngày nay  là tên khai sinh, tên thường gọi.

Tuy nhiên, trong thực tế, có không ít người nhầm lẫn, cho rằng tên húy là tên cúng cơm. Đó là điều nhầm lẫn thật đáng tiếc!

2- Tên tự:

Để giải thích tường tận, ngọn ngành tên tự thì phải mất nhiều trang giấy. Xin chỉ nói một cách ngắn gọn.

Tự (chữ Hán) dịch sang Việt là chữ. Người xưa đặt tên tự để kiêng gọi tên húy, tên tục. Thường đến lúc con trai 20 tuổi người ta bắt đầu đặt tên tự. Tên tự và tên húy có liên quan với nhau. Đặt tên tự phải bắt nguồn từ tên húy, liên quan đến tên húy.

Ví dụ:

– Nhà bác học Lê Quý Đôn (1726-1784) có tên tự là Doãn Hậu. Đôn và Hậu đều có nghĩa là thành thực.

– Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) tự là Hạnh Phủ. Hạnh là đức hạnh, liên hệ đến Khiêm là nhún nhường. Còn từ Phủ thêm vào để tỏ vẻ tôn kính.

Có nhiều cách đặt tên tự. Các cụ xưa quan niệm rằng tên tự càng bí hiểm bao nhiêu, càng tỏ ra mình trí thức bấy nhiêu. Vì vậy để hiểu được mối quan hệ giữa tên tự và tên húy không hề dễ dàng chút nào.

3- Tên hiệu:

Tên hiệu là tên được đặt cho mình để gọi cho đẹp. Thường thì những người thành danh (thành đạt, có tiếng tăm) thì mới đặt tên hiệu.

Ví dụ: Nguyễn Bỉnh Khiêm có tên hiệu là Bạch Vân Am Cư Sĩ . Phùng Khắc Khoan (15281613), tục gọi là Trạng Bùng, là nhà thơ Việt Nam, làm quan cho nhà Lê trung hưng, có tên hiệu là Nghị Trai và Mai Nham Tử. Nguyễn Du (1766– 1820) có tên hiệu là Thanh Hiên..

4- Tên thụy:

Thụy, thuỵ hiệu hay hiệu bụt hoặc tên hèm, tên cúng cơm  là tên được đặt cho những người quá cố, thường là vua chúa, quan to trong triều.

Phan Kế Bính viết trong Việt Nam phong tục: “Nhà nào có ông già bà cả gần mất, con cái vực đến chỗ chính tẩm hỏi han xem người có trăng trối những gì rồi đặt tên hiệu cho người biết.” (Sách đã dẫn. NXB Hà Nội- 1999. Trang 31)

Hiệu ở đây là thụy hiệu, hiệu bụt mà dân gian ta thường gọi là tên hèm, tên cúng cơm. Sau khi đặt tên thụy, khi đến ngày giỗ, người ta thường chỉ xướng tên thụy để mời về thụ hưởng đồ lễ con cháu cúng tế.

Nhìn chung, trong dân dã thường chỉ có tên húy (tên tục, tên thường gọi). Còn tên tự, hiệu, thụy là tên mà các nhà quyền quý, quan lại, trí thức mới đặt. Và trong số này, không phải ai cũng có đầy đủ tên tự, hiệu, thụy.

Nhưng, khi các ông bà, cha mẹ thường dân mất, họ cũng có thể đặt tên tự (cho nam giới), đặt tên hiệu (cho nữ giới) và tên thụy để ghi vào bản các ngày giỗ hay ghi vào gia phả như ở phần trên tôi đã giới thiệu.

Trên đây là một số hiểu biết xin mạnh dạn ghi lại cho bà con thân tộc và bạn bè đọc. Đó là những điều thuộc về ngày xưa, văn hóa của người xưa. Nay đã đổi khác rất nhiều. Song muốn hiểu biết quá khứ thì nhất quyết phải hiểu biết văn hóa của người xưa. Rất mong bà con thân tộc và bạn đọc cung cấp thêm những kiến thức có liên quan đến bài viết này để trao đổi và bổ sung kiến thức cho nhau.

Thanh Hóa, ngày 19 tháng 2 năm Đinh Dậu (2017)

                                         sau ngày giỗ Minh Khang Thái vương Trịnh Kiểm

Share.

About Author

Leave A Reply