ĐÔ THỊ THĂNG LONG VÀNG SON THỜI TRUNG ĐẠI LÊ – TRỊNH

0

ĐÔ THỊ THĂNG LONG VÀNG SON THỜI TRUNG ĐẠI

tác giả: Quang Dũng,

Tp. HCM 12, 2009

Lần đầu tiên kinh đô Tonkin- Thăng Long có một diện mạo mới của một đô thị tân tiến kiểu “phi truyền thống”trở thành trung tâm thương mại sầm uất nhất vương quốc Đại Việt. người sáng lập ra đô thị Thăng Long Trung đại không ai khác, chính là Bình An Vương Trịnh Tùng một con người phi thường với một trái tim nhân hậu, bao dung. Chẳng những vậy ông còn là một bậc nho tướng thao lược, bách chiến bách thắng, người ghi công thống nhất Đại Việt sau gần một trăm năm loạn lạc, để lại trong lịch sử phong kiến Việt Nam những kỳ tích có một không hai.

SỰ HÌNH THÀNH THĂNG LONG TRUNG ĐẠI

Từ thủa vua Lý Công Uẩn định đô mới của Đại Việt vào năm 1010, trải suốt các triều đại Lý, Trần, Hồ, Lê, Mạc, kinh thành Thăng Long luôn được quy hoạch trong không gian “quân thành” khép kín với chu vi nhỏ hẹp mô phỏng theo mô tiếp thiết kế truyền thống Trung Hoa. Suốt thời Lý, Trần, khu vực Hồ Gươm còn rất hiu quạnh, đầm lầy dọc tuyến phố hang Trống, hang Đào, hang Ngang, hang Đường chỉ là con đê ngăn lũ song Hồng bảo vệ chốn kinh sư [11:370]. Sang thời Lê Thái Tổ huyền thoại “trả gươm báu”, hồ Gươm mới bắt đầu được chú ý. Do không có công trình nhà nước đáng kể nào nên viên “Ngọc Bích” hồ Lục Thuỷ chưa hề được công trình nhà nước đáng kể nào nên viên “Ngọc Bích” hồ Lục Thuỷ chưa hề được gọt dũa, tô điểm và vẫn chìm trong lãng quên, vẫn tiếp tục trong cảnh đìu hiu hoang vắng. chỉ bắt đầu từ thời Bình An Dương Vương phục dựng lại quốc thống nhà Lê, diện mạo kinh đô mới có những bước đầu thay đổi đột phá quan trọng, thậm chí “lột xác”, vượt khỏi “cái bóng” của văn hoá Trung Hoa để có một vóc dáng của một đô thị mở thực thụ. Sau khúc khải hoàn, quần thể Vương Phủ Chúa Trịnh được quy hoạch ở chính khu trung tâm và hang loạt cung điện, đền đài được xây dựng hoành tráng trong suốt 200 năm đã biến khu vực hồ Thuỷ quân trở thành một trung tâm chính trị-văn hoá nối liền với khu phố thương mại vô cùng sầm uất. Từ đây khu vực Hồ Gươm bổng trở nên lộng lẫy xứng danh một đệ nhất danh lam chốn kinh sư, trung tâm quyền lực của Vương quốc Đông Kinh. Giáo sĩ người Ý cha Mirini có dịp viếng thăm Vương quốc kinh Phủ đã nhận xét “…chúng ta sẽ trông thấy không những một lâu đài mà cả một thị trấn rất đẹp và rộng…. Số lính canh va các quan võ rất đông, voi ngựa và khí giới đạn dược rất kỳ lạ và quá hẳn sự tưởng tượng của người ta” [13:68].

TrinhTung_ThangLong

Trước đây xét một cách tổng thể, thực tế kinh thành Thăng Long luôn mang tính chất một công trình phòng thủ quân sự hơn là một đô thị đúng nghĩa với đủ hai chức năng thành và thị. Cũng cần biết thêm rằng từ thế kỷ 16 trở về trước, nền ngoại thương Việt Nam còn rất  kém phát  triển. Nên kinh tế chủ yếu là tự túc tự cấp. Cả vương quốc sống cô lập, ngoại trừ một số chợ biên giới “Bạc dịch trường” và khu “quy hoạch thương mại Vân Đồn” buôn hạn chế với lân bang chỉ nhằm cung cấp vật dụng cần thiết cho triều đình, hang tộc. Ngay sau khi Bình An Vương về giải phóng kinh đô mọi việc đã đổi  khác. Lần đầu tiên trong lịch sử xây dựng vùng đất thần Kinh Thăng Long, vòng tường thành bao bọc đã bị phá bỏ vào năm 1592. Các giáo sĩ đã thật sự ngạc nhiên khi  tới đây: “… Kinh đô  không có thành trì và cơ quan phòng thủ gì cả” đúng như một đô thị mở Châu âu rất hiếm gặp thời bấy giờ ở vùng đất Á Châu [ 13:42]. Và cũng chính nhờ yếu tố “mở” không bị kiểm soát, ấn định thời gian ra vào của “quân thành”, đô thị bỗng “bừng tỉnh” nhanh chóng trở thành một trung tâm thương mại sầm uất trong khu vực. Kinh thành ngày càng lộng lẫy, được tô điểm một khuông mặt mới chỉnh chu có không gian mở với 4 phân khu chức năng rõ rệt: 1. khu  hành chính chính trị gồm khu hoàn thành (nơi ở của Vua Lê) và biệt khu Vương Phủ Chúa, nơi thiết triều và sinh hoạt chính trị của Vương quốc. Vương tôc nhà Chúa, hoàng tộc nhà Lê xây dựng dinh thự, phủ đệ kéo dài dọc theo trục tây bắc-đông nam. 2. khu sĩ hoạn dành cho quan lại và trung tâm giáo dục với trường “Đại Học Quốc Tử Giám” ở phương tây nam, 3. khu sản xuất nông nghiệp phía nam kinh thành cung cấp lương thực tại chỗ, thuốc nam trị bệnh cho kinh đô, 4. khu phố buôn bán trong tâm tiểu thủ công nghiệp nằm phía đông kề sát ngay Sông Hồng, tuyến trục đường thuỷ huyết mạch vô cùng thuận lợi nối liền kinh đô với cả vương quốc.

Chuỗi công trình kiến trúc nguy nga, đồ sộ, lộng lẫy vàng son, điểm nhấn quan trọng nhất của đô thị Thăng Long thời trung đại này chính là quần thể vương phủ Chúa Trịnh. Nó uy nguy và tráng lệ hơn nhiều so với hoàng thành nơi vua Lê ngự như nhiều giáo sĩ đương thời miêu tả lại. Vương phủ Trịnh là một quần thể kiến trúc thống nhất phát triển đa chiều vây quanh Phủ chính-trung tâm, được kế tục và phát triển liên tục ngót 200 năm. Vào thời vàng son (cuối TK 18) cụm công trình được mô tả “như một thị trấn” có tới 52 cung điện, lầu các, ngự uyển nguy nga, có quy mô hoành tráng nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Hãy thử lạc bước nơi đây để chime ngưỡng sự lộng lẫy vàng son một thuở của Vương quốc Tonquin “…Tuy cung vua ở (Chính là Phủ Chúa Trịnh-Tg) chỉ xây bằng gỗ nhưng ở đó có rất nhiều đồ vàng, đồ thêu, những chiếu và thảm rất tốt và đủ các màu sắc tô điểm, thực không đâu sành kịp. Người ta còn thấy những của tò vò bằng đá và những bức tường rất dày” [13:68]. Quần  thể bao gồm một dải công trình theo trục Đông Nam – Tây Bắc. Khởi đầu từ cột đồng do Chúa Trịnh Tùng dựng năm 1595 ghi tạc võ công bình  Mạc Trung Hưng nhà Lê tới cung Tây Long cửa ngõ vào Đông Kinh từ phía song Hồng, ta gặp ngay Lầu Ngũ Long – công trình kiến trúc đồ sộ nhất đô thị. Từ đây, một con đường lát đá tảng thẳng tắp  dẫn tới Vương phủ chính nơi Chúa ngự và thiết triều điều hành đất nước. Hướng theo thuỷ lộ dẫn về ly cung tại Bích Câu và khu sĩ hoạn trùng điệp Dinh thự của các đại quan, hoàng thân quốc thích Vua Lê – Chúa Trịnh. Nơi đây nối liền với Quốc Tử Giám, trung tâm đào tạo hiền tài, nuôi dưỡng nguyên khí quốc gia Đại Việt. Dọc theo trục Bắc Nam, một loạt công trình được tạo dựng qua nhiều đời cung Chúa Trịnh từ cung Thuý Liên, Bắc cung (hồ Tây), hành cung Thuỷ tạ trấn quốc qua Hoàng thành nơi Vua Lê ngự tới cụm thuỷ tạ phía bắc hồ Gươm, cung Khánh thuỵ và gặp trục Đông Nam- Tây Bắc tại khu trung tâm đô thị: Vương Phủ Chúa Trịnh. Từ Phủ Chúa ra đường đường Cái Quan đi ngang qua vườn Lộc mã nơi nuôi hươu, ngựa vốn có từ triều Lý, nay được chá Trịnh tu bổ, phát triển quy mô hơn dung cho lộcxa và ngựa cho triều đình và đi thẳng vào xứ Thanh Hoa.Công việc cuối trên trục Bắc Nam là Điện Nam giao và Tư thiên giám. Điện nam giao nơi tế cáo trời đất là chốn linh thiên đã được chúa Trịnh tráng mở rộng, xây thêm điện Chiêu sự tráng lệ (1663), làm nơi chuẩn bị hành lễ. Sự ra đời quần thể vương phù Trịnh ghi tac5 một ấu son trong lịch sử kiế trúc phong kiến Việt Nam biến kinh đô đông kinh trở thành một đô thị đúng nghĩa có đủ cả “thành” lẫn “thị”, hoành tráng và sầm uất vào bậc nhất trong lịch sử tồn tại của nó. Đường xá, phố phường của đô thị được quy hoạch khang trang quy cũ “chúa Trịnh cho đắp một con đường từ Tuyên Võ môn từ trước cửa  Phủ chúa ra đến bờ song Hồng. Con đường này ngăn đôi Hồ Hoàn Kiếm thành Hồ Tả Vọng và hồ Hữu Vọng … con đường được chúa ngự được lát đá tảng để voi ngựa có thể đi được mỗi khi chúa ra lầu Ngũ Long”. Con đường này rất có thể là con đường được giáo sĩ Alexan de Rhodes từng nói đến trong tập ký sự của mình. “….Đường phố kẻ chợ rộng lớn, thẳng đến mức 10 đến 12 ngựa có thể đi hàng ngang  một cách dễ dàng…[4:16]. Lầu Ngụ Long là cụm công trình cấu trúc đẹp nhất kinh thành, nơi diễn ra lễ kỳ đạo, duyệt binh vô cùng long trọng hàng năm. Diện tích lầu Ngũ Long ước tính 100 mẫu [4:39]. Nơi đây là chốn trang nghiêm, đài cát mà nhà chúa  giành tổ chức lễ “kỳ đạo”  duyệt binh hang năm, diễn ra các sự kiện quốc gia trọng đại và đãi yến các tân khoa tiến sĩ thể hện sự trọng vọng nhân tài, trân trọng nguyên khí quốc gia của bậc quân vương sáng láng. Lần lại quá khứ, chúng ta hãy cùng các giáo sị viếng thăm lầu Ngũ Long- biểu tượng quyền lực và sự hưng thịnh một thời vàng son của vương quốc đông kinh triều Lê- Trịnh. Nằm sát ven Hồ hoàn Kiếm và quay mặt ra sông Hồng, lầu Ngụ Long chiếm lĩnh một khu vực đắc địa với hai mặt tiền cận giang cận thuỷ. “lầu cao chót vót ba tầng chính, 5 tầng mái, cao khoảng 120 thước ( tương đương  40 m). Lầu được xây dựng kiên cố bằng đá phiến lớn, có hai mặt thềm đá bậc lên lầu, chính giữa là điện Quang Minh đắp năm con rồng nổi thân vảy dát mảnh sứ tàu vàng óng ánh, vây rồng bằng đá cẩm thạch mầu. Khi mặt trời chiếu sáng ánh sáng dọi vào mình rồng óng ánh như đang chuyển động” [7:124]. Quy hoạch đô thị mở do Bình An vương hoạch định không tường cao hào sâu bao bọc không những thúc đẩy mạnh mẽ nền nội thương  giữa kinh thành và tứ trấn trong nhu cầu tái thiết sau ngót 100 năm loạn lạc mà còn đặt tiền đề phát triển ngoại thương với phương tây khi các húa Trịnh hậu thế của ông cho phép mở Thương điểm Hà Lan (1645), Thương điểm Anh (1670) ngay tại trung tâm đô thị. Đây chính là một mốc son duy nhất trong suốt lịch sử ngoại thương thời phong kiến Việt Nam có những trung tâm thương mại phương tây giữa kinh đô. Không thành luỹ, không cữa ngõ bó buộc giờ giấc, không bị kiểm soát phiền hà, tự do đi lại là tiền đề cho một thời kỳ “bùng nổ” ở kẻ chợ. “Đất lành chim đậu” quy luật bất biến ấy dẫn tới một cuộc di rầm rộ về kinh thành. Từ đất thang mộc Thanh Hoa của nhà chúa, dòng họ các công thần khai quốc (của chính Vương tộc Trịnh) un ùn kéo về tạo nên một thị trường hấp dẫn đầy tiềm năng . Dòng chúa Trịnh kéo về lập thái ấp khu vực Thái kiều dòng Nguyễn Hữu Liêu về định cư ở Từ Liêm (TK 16), dòng Nguyễn Kiều từ Sơn Nam về làng Nam đồng, dòng Nguyễn Đình – Hà Tĩnh di cư về Thanh Hoa được ban thực ấp ở Quan La về lập dinh thự phía Nam hồ Tây (TK 17-18) vv….Các bậc đại thần triều đình còn cùng nhau lập cá một ku phố riêng : khu Ô y hạng với nhiều dinh thự san sát ngay gần khu vương phủ chúa Trịnh ( Khu Áo đen-nay thuộc làng Bồ).

TrinhTung_ThangLong4

Đáp ứng nhu cầu đột biến của kinh đô mới, giới doanh nhân, các phường tiểu thủ công nghiệp từ tứ trấn cũng hối hả tràn về lập pường mở chợ làm “bùng nổ” hông khí làm ăn buôn bán nhộn nhịp tạo nên một khuôn mặt mới vô cùng năng động, đông đúc cả triệu dân [4: 16]. Thợ đồng Đường đào Hải dương kéo về lập phường đúc ở Lò đúc sau chuyển về Ngũ xã. Thợ nhuộm văn Giang – Yên mỹ di cư về lập dãy phố thợ nhuộm. Rồi dân làng  Đan Hới Đào xá mang nghề  quạt về lập phường sản xuất ngay tại kinh thành[15:93]. Dân Đan loan kéo về Hàng Đào, dân làng Rồng ập phố hang vải vv… có thể nói hầu hết phố phường sản xuất nhanh chóng mọc lên như nấm sau mưa với không khí làm ăn sôi động ngày càng thịnh vượng với sự buôn bán giao lưu với phương tây, Nhật Bản, Trug Quốc. Từ “quân thành” khép kín, thành phố không ngừng mở rộng trở thành một trung tâm thương mại sầm uất nhất vương quốc; “ chu vi 20 dặm và dân số có độ một triệulại có tên gọi Đông Kinh” [13:71].Kinh đô có tới “ hai vạn nóc nhà, các đường phố chính đêềurộng rãi”. “ có ba đường phố dài tới 3 dặm” khiến nhà truyền giáo Alexandre de Rhodes phải thốt lên lới ca ngợi khi lần đầu ông tới đây vào năm 1627 “thành phố lộng lẫy ngang hoặc hơn Venice” [12:48]. Chính chúa Trịnh Tùng là người sáng lập nên đô thị Thăng Long lộng lẫy thời trung đại khi ông táo bạo quyết định cho xây dựng một kinh đô phong kiến Á đông  “phi truyền thống” kh6ng tường cao hào sâu, đường phố rộng rãi, có các khu chức năng đô thị rõ ràng. Thiết tưởng không có gì sinh động hơn khi nói về Thăng Long – Đông Kinh thời vàng son bằng lời nhận xét của giáo sĩ người Pháp Charles-Thomas de Saint Phalle trong báo cáo trình quan trưởng ấn De Sihouette (24-2-1753): “Vương quốc này là một trong những vương quốc hùng mạnh nhất ở các xứ Ấn độ… Kinh thành lớn bằng Paris và số dân cũng nhiều như vậy. Tôi đã đến đây nhiều lần, nó nằm trên một con song có tên gọi là sông Cái: số tàu bè dông d8úc không thể tưởng tượng nổi làm cho việc cập bến trở nên khó khăn…” [16:105]

Tiếc thay, qui hoạch đô thị mở Thăng Long trung đại này đã khép lại và diện mạo Thăng Long lại quay trở về kiểu “truyền thống”  khi thành đại đô được chúa Trịnh Doanh cho dấu ấn vàng son mà đô thị thăng long thời trung đại trong lịch sử là một mốc son đánh dấu thời kỳ cực thịnh của Quốc gia Đại Việt, thời kinhh tế hàng  hoá phát triển mạnh mẽ và là thời kỳ duy nhất  “mở cửa hoà nhập” toàn diện với thế giới của các triều đại của phong kiến Việt Nam. Người đặt nền móng cho th7ì kỳ huy hoàng ấy không ai khác hơn chính là Bình An Vương Trịnh Tùng. Tiếc rằng sụ tồn tại của đô thị mở Toquin (Đông Kinh) chỉ tồn tại ngót 200 năm và bị thiêu trụi hoàn toàn trong ngọn lửa thù oan nghiệt bởi ông vua đớn hèn Lê Chiêu thống vào cái năm giáp Thìn định mệnh (1786). Ta hãy nghe giáo sĩ Baladin, nhân chứng của sự huỷ diệt mô tả một cách sót xa trong lá thư đề ngày 03-09-1786 hiện đang lưu giữ tại bộ ngoại giao Cộng Hoà Pháp:.. đám cháy đã tiêu huỷ hết 2/3 thành phố” [7:124]

Chân dung người sáng lập đô thị thăng long Trung Đại

Chúa Trịnh Tùng (1550 – 1623), con trai của Minh Khang Thái Vương Trịnh Kiểm với phu nhân Ngọc Bảo, Con gái cưng của Thái Sư Nguyễn Kim, người dựng cờ “Phù Lê diệt Mạc” ở nửa đầu thế kỷ 16. Thừa kế mọi đức tính anh minh, thần võ, quyết đoán của bậc trượng phu “Nam hải dị nhân-Minh Khang Thái vương”, Chàng thanh niên Trịnh Tùng sớm bộc lộ thiên tài quân sự bẩm sinh, có tài “thần cơ diệu toán” bách chiến bách thắng. Ông phải gánh trọng trách quốc gia đang vận suy sụp, “trứng treo đầu đẳng” khi vừa mới tròn 20 tuổi đời. Nếu như sự nghiệp trung hưng nhà Lê được Nguyễn Kim thời xướng từ năm 1533 và Thái Vương Trịnh Kiểm đứng mũi chịu sào chèo chống con thuyền suốt ngót 40 năm 91545 – 1570) và suốt thời gian ấy, Nam triều cũng chỉ có thể gây dựng làm chủ được hai trấn từ Thanh Hoa trở vào thì chỉ trong già nửa thời gian ấy, Trịnh Tùng đã đưa công nghiệp phò Lê giang dở của cha về đến đích vẻ vang, oanh liệt. Ông đã kết thúc mỹ mãn, sự nghiệp trung hưng đầy gian truân, “ca khúc khải hoàn” đưa vua Lê trở lại ngai vàng nơi để đô thăng Long linh thiêng hồn nước. O6ng chính là người mở nền “Thái bình cho trăm họ”, an dân, dựng lại nguyên khí Đại Việt sau gần 100 năm lầm than, suy kiệt.

tuong2-251x300

Vào năm 1570 ngay khi Trịnh Kiểm qua đời sự nghiệp trung hưng nhà Lê đã gần như tan thành theo mây khói khi Trịnh Cối với chính danh thừa kế Trịnh Kiểm mang đại quân đi đầu hàng Mạc Kính Điển. Trong gây phút “ngàn cân treo sợi tóc”. Ở vào vị thế binh lực chỉ bằng 2/10 quân địch, nội bộ lủng củng, tan rã: “…các tướng đều có ý lìa bỏ, lòng người thay đổi, ai cũng nghĩ đến chuyện sinh biến, mầm họa đã thành “ [1:140] ông đã như bó đuốt rừng rực, củng cố lòng tin, thu phục nhân tâm gắn kết tướng sĩ thành một khối xả thân vì nghĩa lớn dựng lại nghiệp nhà Lê. Tháng 8/1570, Trịnh Tùng được Gia phong tước trưởng quận công, chính thức nắm quyền  “Tiết kế các chư dinh thủy bộ” [1: 142] điều động quân đội. Và ngay lập tức, vị nguyên súy trẻ tuổi đã chứng tỏ bãn lĩnh kiên cường của mình bằng việc dám ung dung nhận chiến thư của Mạc kính Điển và chấp nhận đối đầu trực diện cho dù cục diện chiến trường không cân sức. Mạc Kính Điển xuất trận trong chế “chẻ tre” với 10 vạn quân tinh nhuệ, 700 chuyến thuyền kéo vào tính làm cỏ, san bằng Nam Triều. Thời cơ vàng của nhà Mạc đã bị vị tiết chế mới 20 tuổi đập tan bằng một chiến lược cực kỳ thông minh táo bạo. Chỉ riêng chiến lược đối đầu trực diện đã làm chùn khí thế hùng hổ mà đoàn cường binh bắc triều đang “ muốn1 ăn tươi nuột sống “ Nam triều trong một thế tưởng chừng vô vọng  của “tàn quân” Trịnh Tùng . Bằng chiến thuật “kỳ binh” xuất quỷ nhập thần, ngày cố thủ kiên cường, đêm quấy phá tiêu hao địch. Mưu lược đắp ‘thành giả” trong một đêm [1:143] khiến quân Mạc bất an, lung lay ý chí vv…Bình an Vương đã xoay chuyển tình thế từ thế bị động, bị bao quây sang thế chủ động phòng ngự, dẫn dắt chiến cuộc theo ý đồ chiến lược của ông. Sau 6 tháng giằng co, Y1 chí chiến đấu của quân Mạc bị sói mòn, tan rã mất hết thời cơ đành phải rút về Thăng Long.

Sau giai đoạn củng cố phòng ngự ( 1570 – 1583), Thái úy Trường quốc công Trịnh Tùng đã sáng suốt lãnh đạo cuộc chiến chuyển sang thời kỳ tiến công giải phóng Thăng Long. (1583- 1593) [2:311]. Sau nhiều thất bại liên tiếp , Mạc Hậu Hợp lo tính kế phòng thủ, năm 1585 cho xây dựng củng cố kinh đô Thăng Long thành một pháo đài kiên cố “bất khả xâm phạm” chưa từng có trong lịch sử xây dựng nơi đất thần Kinh [1:161]. Công trình quy mô này được tiến hành suốt hơn một năm trời: “…Hạ lệnh dân binh các huyện trong tứ trấn đắp thêm ba lần lũy ngoài thành Đại la…cao hơn thành Thăng Long vài trượng, rộng 25 trượng, đào ba lần hào, đều trồng tre dài mây mươi dặm, để vây bọc lấy thành “[2:312]. Một lần nữa bản lĩnh thiên tài quân sự của vị nguyên soái được bộc lộ với cuộc đại công phá Thăng Long san bằng 3 tầng lũy hào, tường cao hào sâu chỉ trong vòng mấy ngày. Đây thực sự là võ công vang dội của Bình An Vương đặt dấu mốc đầu tiên trong lịch sử thu phục kinh đô Thăng Long bằng sức mạnh quân sự. Bốn cánh quân với hơn 5 vạn binh tượng tiến công như vũ bão với thế trận áp đảo đè bẹp lực lượng Mạc bất chấp hệ thống phòng thủ kiên cố được dầy công xây dựng. Trong suốt 23 năm nắm giữ binh quyền (1570 – 1592), Bình An Vương xông pha chính chiến 33 trận toàn thắng [2:314], ghi một mốc dấu son chói lọi trong lịch sử quân sự Việt Nam thời phong kiến.

Với tầm nhìn của bậc anh hùng cái thế, Chúa Trịnh Tùng đã cho xây dựng đài ghi dấu  “võ công trung hưng bình Mạc” một cách thật đặc biệt, hy hữu mang đậm tính cách đế vương có một không hai trong lịch sử Đại Việt. Sau chiến thắng khải hoàn, ông cho dựng ngay “Hai cột đồng” bên bến Thảo tân [3:57] báo cáo với trời đất võ công bất hủ: Trung Vương làm được trong suốt dòng chảy Việt Nam. Ý tưởng độc đáo, táo bạo, tự tin này khiến chúng ta nhớ tới sự kiện “Mã Viện …dựng hai cột đồng ghi công tích toàn thịnh của nhà Hán”[5:25]. Chúng ta chưa có nhiều tư liệu chi tiết về sự kiện trọng đại này, dẫu sao nó cũng là một bằng chứng hùng hồn phầ nào nói lên võ công oanh liệt mà Bình An Vương đã tạo dựng vào những năm cuối thế kỷ 16.

TrinhTung_ThangLong6

Sự nghiệp “Võ công oanh liệt” của ông không chỉ dừng trong biên giới Đại Việt. Bình An Vương còn là vị chúa đầu tiên và duy nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam có ý định phô trương “ sức mạnh quân sự Đại Việt” ra nước ngoài như một lời tuyên ngôn đầy tính răn đe kẻ thù ngàn đời phương bắc. Sự kiện hào hùng “động trời” này không hiểu vì lý do gì không được ghi trong chính sử Đại Việt” cũng như Trung Hoa song tính xác thực của nó lại hoàn toàn tin tưởng được khi nó được chính phía Nhật Bản công bố. Năm 1915 tại thượng Dã Công viên Bắc lãm Hội Đông kinh (Tokyo). Nhật Bản cho triển lãm tài liệu về biểu chương của Bình An vương Trịnh Tùng gửi vua Minh Thần Tông, năm vạn lịch 26 (1596) yêu cầu được đưa thủy quân  Đại việt sang  giúp thiên triều đánh Nhật Bản bảo vệ Triều Tiên nhưng đã bị khước từ. Sự kiện này được ghi chép trong sách Nam quốc ký của Trúc Việt Dữ Tam Lang [6:48]. Đối chiếu với các tư liệu lịch sử khác, ta thấy rất rõ ràng và logic. Đây là lúc quân lực Đại Việt nói chung và thủy quân nói riêng đang trong thời kỳ thật xung mãn hùng mạnh, từng đánh bại tàu chiến Tây Ban Nha (1595) ở Nghệ An[13]. Thời gian này, nhân nhà Minh lâm vào cảnh suy vi, Mạc phủ Nhật bản là Phong thần tư Cát bèn hưng binh đánh Triều Tiên. Nhà Minh đem quân cứu viện nhưng đuối sức và chúa Trịnh Tùng đã dâng biểu đề nghị được can thiệp. Tuy sự kiện không được chấp thuận nhưng nó thể hiện sự tự tin tuyệt đối về võ công và lực lượng quân sự hùng hậu của Đại việt đương thời. Sự kiện lịch sử này đã ghi một dấu son hiển hách, khôn tiền khoán hậu trong quan hệ bang giao với thiên triều. Không những vậy, nó còn giúp chúng ta lý giải được vì sao Đại Việt là quốc gia hiếm hoi giữ gìn được nền độc lập tự chủ từ cuối thế kỷ 16, sang suốt 2 thế kỷ 17-18 trong khi hầu hết các nước láng giềng lần lược bị thôn tính  trong cơn lốc xoáy chinh phục chiếm lĩnh thị trường của các đế quốc phương tây. Bồ Đáo Nha chiếm gọn Macao (1550), Mlatca(1511), Good-bay (bombay 1534). Ha2lan, “ con hổ của bảy biển” đương thời thôn tính inđônêsia (1600); Đài loan (1623); Tây Ban Nha chiếm dần Philippin(1564-1571); Hà lan, Anh, Pháp, chia nhau xâu xé Ấn độ (suốt thế kỷ 17). Song tất cả đều phải chùn bước trước mảnh đất Đại việt linh thiêng, hùng cường.

images-5

Ý nghĩa to lớn nhất của nền võ công oanh liệt mà chúa Trịnh Tùng tạo dựng nên chính là ông đã đặt nển móng xây dựng một lực lượng quân sự Đại việt hùng hậu(quân Nguyễn Hoàng cũng từ đó mà ra), bách chiến bách thắng đảm bảo cho nền độc lập, tự chủ của nước nhà xuyên suốt hai thế kỷ 17-18.

Sự nghiệp vẻ vang

Sự nghiệp trung hưng nhà Lê, một vương triều đã mất của chúa Trịnh Tùng là nghiệp trung hưng thành công duy nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Trước đó đã có nhiều cuộc trung hưng nhà Lý; trung hưng nhà Trần nhưng… đều thất bại. Nhìn một cách tổng quát, công nghiệp trung hưng của Nguyễn Kim và kế tiếp tới Trịnh Kiểm đã sụp đỗ hoàn toàn vào 1570 khi Thái vương Trịnh Kiểm qua đời và Trịnh Cối đã hèn hạ cúi đầu hàng giặc Mạc. Nếu như không xuất hiện một thiên tài quân sự, một lãnh tụ có uy lực đủ sức hấp dẫn để liên kết hàng vạn người dưới cờ tụ nghĩa hướng đến mục đích sau cùng thì mọi công sức trung hưng trước đó đã tan tành mây khói. Sự nghiệp quật khởi của ông không chỉ đơn giản là phục hồi “ngôi báu” cho nhà Lê ở vào giai đoạn “nhân tàn-lực kiệt” như cái bóng vật vờ bên dòng thời cuộc. Thực tế lịch sử cho thấy đã không còn một ông “vua Lê” nào đáng bậc anh tài xứng đáng kế tục “ngôi báu” trị vì thiên hạ mà Vua Lê Thái Tổ để lại.

Một trang sử đen tối, tủi nhục lẽ ra đã bao trùm quốc gia Đại Việt khi nhà Mạc Đăng Dung hèn hạ dâng đất, tự trói lên biên giới nộp mình chấp nhận trở thành một phần đất thuộc nhà Minh (1541)[1:122]. May thay, sự nghiệp  “trung hưng” của Bình An Vương đã cứu Đại Việt một lần nữa thoát khỏi ách đô hộ phương bắc và những trang sử tủi hờn ấy. Sự nghiệp ấy mở đầu cho một thời kỳ mới của Đại Việt, thời kỳ tái lập nền tự chủ, hòa nhập vào cộng đồng thế giới và trở thành một mắc xích trên con đường tơ lụa Đông –Tây, khi cuộc Đại Mậu dịch Á- Âu bùng nổ ở thế kỷ 17-18. Ý nghĩa to lớn của sự nghiệp vĩ đại ấy đã đặt dấu chấm hết thời kỳ 100 năm loạn lạc lầm than, “nồi da nấu thịt” mang lại quốc thái dân an. Nguyên lý “giành được chính quyền đã khó, giữ được chính quyền còn khó hơn” càng soi sáng sự nghiệp vẻ vang của Bình An vương. Trong hoàn cảnh mầm mống nổi loạn âm ỉ, tàn dư của quân Mạc khắp nơi, rồi lực lượng của Nguyễn Hoàng xứ Thuận quảng luôn rình rập, áp lực đấu tranh với Minh triều bảo vệ nền độc lập tự chủ của vương triều càng làm rạng rỡ thêm sự nghiệp của vị Chúa anh minh Bình An Vương Trịnh Tùng. Sự vĩ đãi của nhà Chúa, chính ở chỗ đã xây dựng và hình thành một thiết chế chính trị độc đáo khôn tiền khoán hậu trong lịch sử. Thiết chế “ lưỡng đầu” do ông đề xướng cực kỳ khôn ngoan, vô cùng tinh tế có một kông hai trong lịch sử xây dựng thiết chế nhà nuớc quân chủ phong kiến Việt Nam. thiết chế đặc biệt khôn khéo, uyển chuyển này là cơ sở giữ vững vương triều trường tồn với phương châm “Hoàng gia coi việc hồng phúc – Nhà chúa giữ vững quyền uy”. Việc chúa Trịnh Tùng khởi xướng thành công mô hình tổ chức nhà nước mới là cả một quyết định phi thường. Thiết chế này chẳng những đáp ứng được lời khuyên “gieo hạt giống cũ”của nhà tiên tri lỗi lạc Trạng Trình, bảo tồn trọn vẹn “hình thức nhà hậu Lê” xoa dịu, an lòng triều thần vốn được giáo dục theo khuôn mẫu trung quân phong kiến. Song điều quan trọng nhất, đó là “công cụ” hữu hiệu đập tan mọi cản trở giúp Bình An vương nắm trọn “uy quyền” trị quốc, bảo vệ đất nước vào thời buổi quốc sơ đầy mầm mống nội loạn. Sự nghiệp vĩ đại của Chúa Trịnh Tùng chính là ở chỗ ấy, bởi thể chế chính trị ông khởi xướng đã giải quyết trọn vẹn mọi bề duy trì khối đoàn kết tòa dân trên dưới một lòng dốc sức bảo vệ vương triều non trẻ. Điển hình cho thiết chế độc đáo ấy là hiện vật vương giữ hình bóng tỷ ấn “Bình an Vương Tỷ” của ông còn được lưu truyền tới ngày nay [8]. Vua Lê đã có sẵn bảo ấn truyền quốc “Sắc mệnh chi bảo” từ thời vua Lê Thái Tổ [9:203] vậy nhà chúa sẽ dùng ấn nàođể khẳng định “vương vị, uy quyền” trị quốc? Trật tự, quy chế hành chính ở triều đình phong kiến truyền thống “kiểu Trung Hoa” rất chặt chẽ và chuẩn xác. Tự thân mọi vật dụng, sẽ nói lên tất cả. Bởi vậy việc Chúa Trịnh Tùng lần đầu đặt lệ dùng “Tỷ ấn” là một lựa chọn cực kỳ mưu lược tinh tế, hàm ẩn ý tứ sâu xa, khẳng định vương quyền tối thượng cho Phủ Chúa. Mỗi lệnh chỉ khi được áp dấu “Tỷ ấn”, nhà Chúa đã luôn nhắc nhở mỗi triều thần nhớ đến vương quyền tối cao của mình trên cả hoàng quyền nhà Lê. “Tỷ ấn truyền quốc” được ra đời vào thời Tần Thuỷ Hoàng đế (259 – 210 TCN). Thể chế quy định: “chỉ có dấu của hoàng đế mới được gọi là Tỷ…dùng đóng trên các loại văn thư do hoàng đế ban bố” [10:263]. Quần thần triều Lê – Trịnh, các bậc túc nho trong dân gian đương nhiên đều thấu hiểu qui chuẩn nghiêm ngặt này, vì vậy Bình An Vuơng Tỷ chính là “tuyên ngôn” bất thành văn khẳng định “hoàng quyền” của nhà Chúa.

13681040_278011589223447_8258419124627443120_n

Sự nghiệp lừng lẫy do Bình An Vương gây dựng đã vuợt biên giới gây ảnh hưởng cả với “Thiên triều” khiến họ không dám ra mặt bảo vệ nhà Mạc cho dù đã được đút lót rất nhiều. Trước võ công hiển hách, sự nghiệp vẻ vang ấy, Viên quan nhà Minh Trần Đôn Hựu lại sai Vương Kiến Lập mang ngựa tốt, đai ngọc, mũ Xung thiên sang ban tặng Tiết chế Trịnh Tùng xin kết tình láng giềng và gửi hai tấm thiệp, trong viết 8 chữ: “Quang hưng tiền liệt, định quốc nguyên huân” (quang phục nghiệp xưa, công đầu định nước) [1:205], Đây là một việc chưa từng có trong lịch mối bang giao Trung – Việt nhiều trắc trở từ thủa lập quốc tới nay.

Thay cho lời kết

Tiến tới đại lễ kỷ niệm 1000 năm thăng Long, vị trí của người sáng lập đô thị Thăng Long trung đại cần được xác lập thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Chí ít cũng cần có một con đường mang tên vị chúa anh hùng “Bình An vương Trịnh Tùng”, người sáng lập đô thị Thăng Long thời trung đại và lưu những nét vàng son một thủa cho đất đế đô. 

Tài liệu tham khảo:

1.Đại Việt sử ký toàn thư (Bản nội các quan bản 1697)                NXBKHXH 1993

2.Chúa Trịnh vị trí và vai trò lịch sử (kỷ yếu HTKH)    Ban NCLS thanh Hoá 1995

3.Ngược đường trường thi                                              NXB bốn phương SG 1957

5.Cổ sử Việt Nam một cách tiếp cận                                          NXB lao động 2007

6.Tập san sử địa số 29                                             Nhà sách khai Trí Sài Gòn 1974

  1. Họ Trịnh với Thăng Long                                                        NXB dân tộc 2000

8.Bình An lệnh chỉ                                               Thư viện Hán Nôm KHVH v2489

  1. Án chương Việt Nam                                                                NXB KHXH 2005

10.Bí mật tử cấm thành                                               NXB Văn nghệ TPHCM 2003

11.Hà Nội đầu thế kỷ XX                                                              NXB Hà Nội 1995

12.Thăng Long – Hà Nội thế kỷ 17, 18, 19                      Hội sử học Việt Nam 1993

13.Lịch sử thiên chúa ở Việt Nam                               NXB Đại Việt thiện bản 1944

14.Thăng Long – Hà Nội mười thế kỷ đô thị hoá                     NXB Xây dựng 1995

15.Hưng Yên vùng phù sa                                                                    NXB trẻ 2009

16.Những người Châu Âu ở nước Anam                                       NXBthế giới 2006

Share.

About Author

Leave A Reply