ĐẠO LÝ KÍNH THẦY CỦA CÁC CHÚA TRỊNH

0

Đạo lý Kính thầy của các chúa Trịnh

  1. Đạo thày trò giữa Quốc sư Đàm Công Hiệu và trò An Đô vương, Hy tổ Nhân vương Trịnh Cương.

Ở làng Me, xưa là xã Ông Mặc, xứ Kinh Bắc, nay là xã Hương Mặc, tỉnh Bắc Ninh, có một ngôi nhà đã tồn tại ba thế kỷ. Đó là chứng tích của một loạt sử kiện đạo lý thế kỷ XVII và XVIII triều Lê – Trịnh: đạo lý danh nhân Đàm Công Hiệu thanh liêm chính trực và đạo lý các chúa Trịnh công minh trọng đạo kính thày.

Câu chuyện cảm động giữa Quốc sư họ Đàm và các chúa Trịnh đã được ghi chép trong sử sách và truyền muôn đời sau như sách Lịch Đại Thanh hiền phổ, Lịch sử văn hóa Việt Nam, Văn hóa dòng họ, Cội nguồn….

Về người thày các chúa Trịnh, Đàm Công Hiệu, ông tự là Mai Hiên, húy là Công Hy, sinh ngày 24-10 năm Nhâm Thìn (1652) thời Lê Nhân Tông, năm Khánh Đức 4 tại làng Ông Mặc, Tổng Nghĩa Lập, huyện Đông Ngàn, Phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc (nay là xã Hương Mặc, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Đàm Công Hiệu là con trưởng Thái bảo Đàm Tung và là cháu 7 đời của Tiến sĩ Thượng thư Đàm Thận Huy. Đàm Công Hiệu nối nghiệp tổ tiên vừa làm quan, vừa dạy học, đào tạo nhiều người tài giỏi. Năm Quý Sửu (1673), đỗ Nho sinh. Năm Giáp Tý (1684), 34 tuổi, đỗ Sỹ Vọng được bổ làm tri huyện Thanh Oai (Hà Đông), sau đổi thành Tri phủ Hạ Hồng (thuộc Kim Giang-Hải Dương cũ).

14

(Nhà thờ Quốc sư Đàm Công Hiệu tại Hương Mặc, Bắc Ninh)

Sử sách chép rằng, ở phủ Hạ Hồng (Hải Dương) có vụ giết người cướp ruộng, việc đã 7 năm quan không xử vì thủ phạm là cậu chúa Trịnh. Năm 1694, Tri phủ Đàm Công Hiệu được đổi về đó, điều tra rõ, không e dè gì, cụ đòi tên tội phạm đến, nghiêm khắc lục vấn khiến y phải tự thú tội. Khi đủ chứng cứ, cụ giao lên tỉnh. Việc đến Vương phủ, Chúa Trịnh lúc bấy giờ là Khang vương Trịnh Căn xử chém ngay thủ phạm là cậu ruột mình và ban chiếu khen, thăng quan cho Tri phủ Đàm Công Hiệu cho về triệu nhận chức Thị nội-Văn chức-Nhật phiên vào giảng sách trong Vương phủ, thêm chức Xướng nội thử-Tả thụy binh phiên rồi đổi sang làm Tả bộ binh phiên (năm Đinh Sửu 1697). Năm 1698, Khang vương Trịnh Căn chỉ dụ Đàm Công Hiệu trực tiếp dạy Thế tử Trịnh Cương và bổ thêm chức Trị nội thư-Tả hộ phiên. Ngụ ý chúa Trịnh Căn là các thế tử muốn trưởng thành, lãnh đạo đất nước, yêu quý nhân dân thì phải học con người đức độ, ngay thẳng, tài giỏi như Đàm Công Hiệu. Khi An Đô Vương Trịnh Cương nối nghiệp Chúa, Đàm Công Hiệu được thăng làm Bồi tụng Lễ Bộ thị Lang, tước Nghĩa Sơn Nam. Năm Đinh Dậu (1717) tăng là Tham tụng rồi tiếp tục dạy học cho Trịnh Giang (con Trịnh Cương).Năm Canh Tý (1720), Đàm Công Hiệu 69 tuổi, xin về trí sĩ tại Ông Mặc, làng Me, huyện Đông Ngàn (nay là xã Hương Mặc, huyện Từ Sơn), được thăng Lễ Bộ thượng thư, tham dự triều chính. Một hôm An Đô Vương về thăm thầy, cứ ngỡ rằng tước lộc đến thì giàu sang lắm. Song, thấy nhà cụ vẫn là nhà tranh vách đất chật hẹp. Thương cảm, Chúa muốn mua đất xung quanh làm nhà cho thầy học cuối đời nhưng Đàm sư phụ không nghe. Chỉ có cách nhân thầy nói là nhớ chỗ dạy học xưa, chúa Trịnh Cương bèn gỡ ngay nhà dạy học đó ở Văn Miếu Quốc tử giám đem về làng Me để thầy được nhìn thấy cho đỡ nhớ, coi đó là quà biếu thầy (năm 1721).

1283912903-nv

Mãi đến khi thầy học mất, chúa Trịnh Cương mới dám sai quan về mua đất của các nhà bên cạnh được khoảng 3 sào làm thêm nhà để lấy chỗ lo ma, tế lễ. Những nhà nhượng lại đất đều được nhận giá cao và cho thêm tiền để dọn nhà đi nơi khác. Mua bán cho văn tự phân minh, giao cho con cháu giữ gìn về sau. Cuộc đời làm quan, làm thầy dạy học, được chọn làm thầy dạy vua chúa… Đàm Công Hiệu chỉ sống đạm bạc, thanh bần, trung với nước, hiếu với dân, lấy nhân hậu làm trọng, với kinh sách học hành làm sự nghiệp; khiêm tốn, giản dị, độ lượng, cương trực, công minh… Dù làm quan sống trong cung cấm nhưng nơi riêng tư vẫn cảnh nhà tranh vách đất. Thật là cả một đời người thanh bạch. Nhiều câu chuyện về đức độ, tài trí của Đàm Công Hiệu còn được truyền tụng: Khi sống trong phủ Chúa, ông không màng vinh hoa phú quý. Có lần Chúa bảo: “Trong cung phủ đây, có thứ gì thầy ưng muốn lấy tôi xin biếu”. Thầy cảm tạ từ chối. Sau gặng hỏi mãi thầy mới nói: “Duy tôi chỉ muốn có thể Chúa cho một số bộ sách ở kho giảng đường. Trước là vật kỷ niệm quý báu cho gia đình, sau là để truyền lại cho con cháu để được học hành mở rộng thêm”. Chúa cười, sai người đem sách biếu cụ ngay.

Ngôi nhà chúa Trịnh tặng thầy học của mình hiện là Nhà thờ Quốc sư Đàm Công Hiệu, đã được công nhận là di tích lịch sử. Nhà thờ này là tài sản vô giá về tình thày chính trực, chúa công minh. Đàm Công Hiệu xứng đáng là một tri thức thời ấy, một quan triều Cần-Liêm-Trí-Dũng, một thầy giáo mẫu mực, nhân cách, phẩm chất cao đẹp đúng với ngôi vị Quốc sư Nhà Trịnh

  1. Một câu chuyện khác về tình thầy trò giữa Thầy Nguyễn Công Thái và Trò Trịnh Sâm.

Nguyễn Công Thái (1684-1758) hiệu là Thuần Chính, thụy là Trung Mẫn Công, húy là Phấn, tên thường gọi là Nguyễn Công Thể. Ông thuộc đời thứ 6, chi thứ họ Nguyễn Phúc làng Lủ, xã Đại Kim, huyện Thanh Trì (nay là phường Đại Kim, quận Hoàng Mai, TP Hà Nội)…

Năm 1715, giai đoạn chúa An Đô vương Trịnh Cương trị vì đất nước, ông đỗ Tiến sĩ, tên tuổi được khắc trên văn bia tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám. Con đường quan lộ ban đầu của Nguyễn Công Thái khá hanh thông khi ông được triều đình trọng dụng, cử đi làm quan ở nhiều địa phương như: Đốc đồng Hải Dương và Thanh Hóa, Hiến sát sứ ở Nghệ An… Dần dần, ông được thăng chức Tế tửu Quốc Tử Giám, Tả thị lang Bộ Công, Hữu thị lang Bộ Hình, Thượng thư Bộ Lại… Đặc biệt, ông đã 5 lần được bổ nhiệm, giáng chức rồi phục chức Tham tụng và được phong tước là Vinh Lộc Đại phu, Kiều Quận công. Chức Tham tụng tương đương với chức Tể tướng, là chức quan to nhất thời vua Lê-chúa Trịnh.

Năm 1753 đời chúa Trịnh Doanh, khi chúa xác lập thế tử Trịnh Sâm sẽ là người nối ngôi chúa, đã tín nhiệm cử ông là phó sư dạy học cho thế tử Trịnh Sâm. Chuyện kể rằng, sau khi thày Nguyễn Công Thái trở về trí sĩ, chúa Trịnh Sâm thường sai người đến hỏi thăm. Lần ấy, một vị quan đại thần sau khi về tận nhà thày ở Làng Kim Lủ về tâu với chúa rằng: Căn nhà thầy Nguyễn Công Thái đang ở chỉ được làm bằng tranh tre nứa lá và hư hỏng nhiều. Chúa Trịnh Sâm xúc động, xót xa, nhớ ơn thày, chúa sai thợ giỏi làm ba gian nhà tử tế bằng gỗ Tứ thiết, trước là để thày ở, sau là nơi thờ tự thầy lúc trăm tuổi. Nay ngôi nhà đó vẫn còn khá nguyên vẹn, trở thành Nhà thờ Tướng công họ Nguyễn, nằm sâu trong ngõ nhỏ làng Kim Lủ, Đại Kim, Hà Nội… Đã được công nhận di tích quốc gia.

14958832_329495664075039_334982659_n

(Nhà thờ Tể tướng Nguyễn Công Thái, thày dạy học chúa Trịnh Sâm)

Nói về đức độ của thày Nguyễn Công Thái, thực sự là giản dị, thanh liêm, được dân chúng yêu quý. Dẫn chứng là khi làm trấn thủ Sơn Nam, dân chúng có tặng nhiều quà nhưng ông chỉ nhận một đôi giày để đi đường. Khi làm Tế tửu Quốc Tử Giám, Nguyễn Công Thái đã bỏ tiền riêng giúp đỡ cho nhiều học sinh nghèo, trong đó có người thành Tiến sĩ như Nguyễn Hồ Dĩnh. Khi về hưu, có ruộng vua ban, ông cũng chia cho người trong làng, sống những ngày tháng cuối đời thanh bạch.

Suốt cuộc đời ở chốn quan trường, Nguyễn Công Thái luôn giữ khí tiết của một nhà Nho, được giao bất cứ nhiệm vụ nào cũng đều hoàn thành. Năm 1739, một tù trưởng ở Lạng Sơn là Toàn Cơ nổi loạn, ông được lệnh đi đánh dẹp. Nguyễn Công Thái hoàn thành nhiệm vụ mà không mất một người lính nào vì ông đã dũng cảm tay không thuyết phục tù trưởng quy thuận triều đình. Năm 1740, Nguyễn Công Thái cùng với các đại quan khác đưa chúa Trịnh Doanh lên thay chúa Trịnh Giang vốn ăn chơi trác táng, nhằm cứu vãn triều chính.

Công lao lớn nhất của Nguyễn Công Thái được người đời ghi nhận là một nhà ngoại giao tài tình với việc hai lần đấu tranh đòi lại đất đai mà nhà Thanh lấn chiếm. Lần đầu là khi quân Thanh đóng ở Quảng Tây, nhiều lần đưa người qua biên giới xâm lấn đất đai thuộc tỉnh Lạng Sơn ngày nay. Chúa Trịnh Giang liền cử Nguyễn Công Thái lên thương thuyết với nhà Thanh. Trải qua nhiều tháng khảo sát thực địa, so sánh với bản đồ, bằng trí tuệ tuyệt vời, ông đã thuyết phục được quan nhà Thanh trả lại vùng đất chiếm trái phép. Hơn nữa, phía nhà Thanh phải đóng thuế khai thác khoáng sản cho triều đình Đại Việt.

Lần thứ hai, nhà Thanh muốn chiếm mỏ đồng Tụ Long (châu Vị Xuyên, thuộc tỉnh Hà Giang ngày nay). Đứng trước tình trạng căng thẳng, triều đình Lê-Trịnh đã cử Nguyễn Công Thái và Nguyễn Huy Nhuận lên đường thương lượng với người Thanh. Trải qua nhiều ngày trèo đèo, lội suối rất gian khổ và nguy hiểm, hai ông đã tìm đến sông Đổ Chú, lấy đó làm ranh giới, thuyết phục nhà Thanh cắm mốc bằng đá và dựng bia với lời văn hùng hồn: “Lấy mốc sông Đổ Chú làm căn cứ, ngày 18 tháng 9 năm Ung Chính thứ 6 (1728), chúng ta là: Nguyễn Huy Nhuận, Tả thị lang Bộ Binh và Nguyễn Công Thái, Tế tửu Quốc Tử Giám, được triều đình ủy sai, vâng theo chỉ dụ, lập bia đá này”. Như vậy, người Thanh phải trả lại cho ta hơn 40 dặm đất có mỏ đồng Tụ Long rất quý đã chiếm. Việc làm này để lại tiếng thơm cho Nguyễn Công Thái đến muôn đời, sách sử thời Nguyễn chép rằng, vua Tự Đức, nhân xem sử cũ, biết việc làm của Nguyễn Công Thái đã cầm bút châu phê vào bộ chính sử Khâm định Việt sử thông giám cương mục, rằng: “Đạo bầy tôi phải như thế!”

Hơn 40 năm làm quan, Nguyễn Công Thái từng đảm nhiệm nhiều chức vụ khác nhau: từ Giám sát Ngự sử đến Tế tửu Quốc Tử Giám, Tham tụng, Thị lang bộ Công, Thượng thư Bộ Hộ, Thượng thư Bộ Lễ, Thượng thư bộ Binh, Thượng thư bộ Lại… ông luôn chứng tỏ tài năng và trí tuệ của mình, được được vua Lê chúa Trịnh coi trọng, tin dùng. Trong thời gian làm quan, ông đã 5 lần ông xin về trí sĩ, nhưng cả 5 lần ông đều được vời ra giúp việc ngay sau đó. Đặc biệt, trong thời gian ông đảm nhiệm chức Tế tửu (như Hiệu trưởng) Quốc Tử Giám – trường đại học đầu tiên của Việt Nam, ông đã có những đóng góp không nhỏ đối với sự phát triển giáo dục, đào tạo nhân tài ở nước ta.

Nguyễn Công Thái được bổ nhiệm Tế tửu Quốc Tử Giám vào khoảng năm 1728 với trách nhiệm Phụng mệnh trông coi nhà Văn Miếu, rèn tập sĩ tử, phải chiếu theo chỉ truyền năm trước, hằng tháng theo đúng kỳ cho (học trò trường Giám) tập làm văn, để gây dựng nhân tài, giúp việc thực dụng cho nước(1). Theo quy định thời kỳ này, những người được bổ nhiệm chức Tế tửu Quốc Tử Giám phải là những bậc đại khoa, văn chương, trí tuệ uyên bác, đạo đức trong sáng. Nguyễn Công Thái là một quan chức mẫn cán, tài năng, chắc chắn không phụ lòng mong đợi của triều đình, hoàn thành xuất sắc chức trách của người quản lý và người thầy giáo, đào tạo được nhiều nhân tài cho đất nước.

te-tuong-nguyen-cong-thai-1

Nguyễn Công Thái không chỉ là vị quan tài năng, hết lòng phụng sự đất nước mà còn là một tác gia. Ông đã có 7 lần soạn và nhuận sắc các bài kí được khắc trên bia đá tại ở hai địa điểm thiêng liêng, biểu dương cho tinh thần tôn sư trọng đạo, khích lệ truyền thống hiếu học của đất nước là miếu thờ Chu Văn An và Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Năm 1717, Nguyễn Công Thái là người soạn văn bia Văn Trinh công Từ bi kí(2) cho Miếu thờ Chu Văn An tại xã Huỳnh Cung tổng Cổ Điển huyện Thanh Trì (Hà Nội). Bài ký ghi về hành trạng, công tích của Chu Văn An, một vị Tư nghiệp Quốc Tử Giám nổi tiếng dưới triều vua Trần Minh Tông (1324 – 1329), một danh sư đồng thời là một danh nhân văn hóa tiêu biểu của Việt Nam. Bài ký là tư liệu quý cho chúng ta tìm hiểu về thân thế, sự nghiệp của một vị Tư nghiệp Quốc Tử Giám, một danh nho, người thầy đạo cao đức trọng, về lịch sử ngôi miếu thờ, cũng như truyền thống văn hóa uống nước nhớ nguồn của con người Việt Nam. Văn bia cũng cho chúng ta hiểu thêm được về bản thân con người Nguyễn Công Thái.

Đáng chú ý là 6 bài ký Văn bia Tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám do Nguyễn Công Thái nhuận sắc, đó là các bài kí các khoa thi năm 1724, 1743, 1746, 1748, 1752 và 1754. Đây là những đóng góp lớn của Nguyễn Công Thái đối với nền văn chương nước nhà, bởi những bài ký trên bia Tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám không chỉ được coi là những sử liệu quan trọng, mà còn là những áng văn chương uyên bác, mẫu mực (thể loại bi ký) còn lại ở nước ta. Thông thường, những người nhuận sắc – người sẽ hiệu chỉnh nội dung, rà soát sửa chữa văn phong, câu chữ để đảm bảo cho bài ký không chỉ chính xác về nội dung, tư tưởng mà còn chau truốt, hay về nghệ thuật, phải là người học vấn tinh thông, văn chương uyên bác. Nguyễn Công Thái là người tài giỏi trong lĩnh vực văn học và phải được Chúa tin dùng(3) và vì vậy ông được tín nhiệm giao cho việc quan trọng này.

Con người và sự nghiệp của ông đã được triều đình ghi nhận không chỉ ở những chức trách mà ông được giao phó, mà còn ở những sắc phong tặng cho ông. Nội dung 10 sắc phong liên quan đến Nguyễn Công Thái hiện còn giữ được cho chúng ta rõ hơn về nhân cách, con người ông. Các sắc phong tặng ông đề ghi những dòng khen ngợi: “Người có ngôn luận sắc bén, góc cạnh, phong thái riêng” hay “người có tâm thuật, có tài trong công việc, tiên phong, trung chính, chăm chỉ” hay “tính ông trong sạch, giản dị, thẳng thắn, có công to lập ngôi chúa nên được Ân vương rất tin cậy quý trọng”.

Những tư liệu như văn bia, sắc phong, gia phả hiện còn là bằng chứng chân thực về Tế tửu Quốc Tử Giám Nguyễn Công Thái, một danh thần, một nho sĩ thế kỷ XVIII, đồng thời là di sản văn hóa quý báu của dân tộc. Con người và sự nghiệp của Tiến sĩ, Tế tửu Quốc Tử Giám là bài học quý báu, là tấm gương sáng cho thế hệ sau học tập. Nguyễn Công Thái xứng đáng là một danh nhân văn hóa, niềm tự hào của người dân Kim Lũ Hà Nội nói riêng và của Việt Nam nói chung.

Đọc sử cũ mới thấy tình thày trò bao la của người làm chúa thời xưa.

(Bài viết tổng hợp từ nhiều nguồn)

Share.

About Author

Leave A Reply