DANH TƯỚNG TRỊNH KHẮC PHỤC QUA SỬ SÁCH VÀ GIA PHẢ

1

DANH TƯỚNG  TRỊNH KHẮC PHỤC QUA SỬ SÁCH VÀ GIA PHẢ

                                                                 

                                                                            Trịnh Duy Tuân và  Lê Hồng Phong

Lê triều Khai quốc Công thần – Thượng đẳng  Phúc thần – Đại vương Trịnh Khắc Phục không chỉ là một vị Thủy tổ của riêng dòng tộc, một danh nhân tiêu biểu của Đại tộc Trịnh Việt Nam mà còn là một nhân vật lịch sử của Việt Nam. Thông qua chính sử và gia phả, sắc phong,  qua các di lích lịch sử -văn hóa liên quan mà nhà nước đã công nhận, bước đầu chúng tôi muốn giới thiệu khái quát về nhân vật lỗi lạc này với dòng tộc, với Đại tộc Trịnh, với bạn bè và những người quan tâm đến lịch sử nước nhà.

  1. Về một số cuốn giả phả chữ Hán hiện còn của dòng tộc Trịnh Khắc Phục

Theo Giáo sư Trịnh Bỉnh Di, Dòng họ của Ngọc Sơn hầu Trịnh Khắc Phục có từ khoảng năm 1220, cuối triều Lý. Đây là dòng họ có gia phả sớm nhất của họ Trịnh nước ta, đã ghi chép đầy đủ và liên tục từ đầu đến nay”([1]).

Quả đúng như vậy, gia phả dòng cụ Trịnh Khắc Phục chép từ cụ Khởi Tổ sống vào cuối đời nhà Lý, đầu đời nhà Trần, làm quan, được phong tước Hầu. Hậu duệ đời thứ 5 của cụ Khởi Tổ là bà Trịnh Thị Ngọc Thương sinh ra Lê Lợi – người sáng nghiệp vương triều Hậu Lê, một vương triều tồn tại lâu dài nhất trong lịch sử các vương triều ở Việt Nam. Hậu duệ đời thứ 7 của cụ Khởi Tổ là cụ Trịnh Khắc Phục được gọi là Thủy Tổ. Vì là một dòng họ thế tập làm quan từ lâu đời, sau đó nhiều lần trở thành Quốc thích (họ ngoại của vua) triều Hậu Lê nên dòng họ Trịnh Khắc Phục hội tụ nhiều yếu tố, có khá đầy đủ điều kiện để lập gia phả từ rất sớm, lưu giữ được gia phả và tục biên cho đến tận ngày nay.

Cũng do có phả từ lâu đời nên số lượng con cháu được ghi lại rất nhiều và phát tán trên một vùng rộng lớn. Vì vậy, dòng Trịnh Khắc Phục có nhiều bản gia phả. Con cháu cụ Phục ở thôn Vân Đô, xã Đông Minh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa (chi trưởng) đang giữ một số gia phả bằng Hán văn và Việt văn. Tuy nhiên, đây chưa phải là một tập hợp đầy đủ gia phả con cháu đời sau của cụ.

Số gia phả đó có thể chia thành 3 nhóm và gọi tên như sau:

– Gia phả số 1 (viết tắt GP1) ([2]): Là gia phả của chi trưởng (thôn Vân Đô), xã Đông Minh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

1

– Gia phả số 2 (viết tắt GP2) ([3]): Là gia phả của chi thứ 4. Tiền nhân của chi này có nhiều công lao nên được ban đất ở Khổng Tào (nay là xã Thọ Bình, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa) để sinh cơ lập nghiệp. Thời gian vật đổi sao dời, hiện ở Khổng Tào gần như không còn gia đình họ Trịnh nào thuộc chi này. Hậu duệ của cụ Tổ Chi có một nhánh chuyển cư đến thôn Đoàn Tùng (tên cũ: làng Thông), xã Đoàn Tùng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

2

– Gia phả số 3 (viết tắt GP3)([1]): Là gia phả của chi thứ 7, chi họ ở xã Đức Hương, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh.

3

Dòng họ cụ Trịnh Khắc Phục chắc chắn còn nhiều bản gia phả nữa (vì cụ có tới 8 người con trai) nhưng do không gian, đặc biệt là thời gian nên chưa thể tập hợp được. Và chắc chắn cũng không thể tập hợp được đầy đủ, dù chỉ là tương đối. Những cuốn gia phả chúng tôi có trong tay chỉ là một phần rất nhỏ.

Thời gian lập gia phả, sao chép gia phả dòng tộc Trịnh Khắc Phục

Hãy lần theo các cuốn gia phả để xác định thời gian.

2.1. Trước hết là cuốn GP1. Địa danh ghi trong GP1 như sau :

Thiệu Thiên phủ, Lôi Dương huyện, Thuỷ Chú xã …

Nghĩa là : xã Thủy Chú, huyện Lôi Dương, phủ Thiệu Thiên …

Căn cứ vào diên cách các địa danh, thấy rằng tên phủ Thiệu Thiên có từ trước, cho đến  thời vua Gia Long (1815) thì đổi thành phủ Thiệu Hoá. Tên huyện Lôi Dương cũng vậy. Khoảng năm 1826, Minh Mệnh cho huyện Lôi Dương  đổi thành phủ Thọ Xuân. Tên Lôi Dương mất từ đây.

Như vậy, GP1 ghi tên phủ Thiệu Thiên, huyện Lôi Dương được viết muộn nhất là vào thời vua Gia Long, cách đây ít nhất khoảng trên 200 năm.

Cụ Trịnh Khắc Phục sinh cuối thế kỉ XIV, mất năm 1451. Người viết GP1 là Cẩm Vân hầu Trịnh Duy Nhất, hậu duệ 7 đời của cụ Trịnh Khắc Phục. Bảy đời áng chừng 150 năm. Như vậy GP1 viết khoảng đầu thế kỉ XVII, cách đây (năm 2013) khoảng 300 năm. Hậu duệ của cụ Trịnh Duy Nhất đến nay đã có 13 đến 14 thế hệ. Đưa ra con số như thế để thấy GP1 được viết  cách đây khoảng 300 năm là hợp lí.

Tuy nhiên, đây không phải là cuốn gia phả đầu tiên. Phần đầu cuốn phả có câu : “… trưởng tôn Cẩm Vân hầu Trịnh Duy Nhất, ốc ngoại mẫu quán Đông Sơn huyện, Vân Đô xã, sinh hạ tử tôn lưu cư kế thế, tư cứ cựu gia phổ lưu (玆 舊家譜留: dựa vào gia phả cũ để soạn, lưu truyền về sau).  Như vậy, gia tộc này trước đó đã có gia phả, GP1 chỉ là cuốn tục biên.

2.2. Tiếp đến là tập GP2: Theo chúng tôi, thực chất chưa phải là cuốn gia phả đúng nghĩa với 2 lí do sau:

– Thứ nhất, nó là một phần trong cuốn 壽春府三弄總雜紙 – Thọ Xuân phủ Tam Lộng tổng tạp chỉ.”Tạm dịch: Bản  ghi chép hỗn hợp của tổng Tam Lộng phủ Thọ Xuân. Xưa, xã Khổng Tào thuộc tổng Tam Lộng, phủ Thọ Xuân, Thanh Hóa.

– Thứ  hai là mục đích của người viết. Xin trích một đoạn sau: “Bà Trinh Từ Hoàng Thái hậu của triều cựu Lê cùng vị Khai quốc công thần Lê Khắc Phục([1]) Thượng đẳng Đại vương, vốn vào năm Canh Tuất khâm phụng quốc gia khôi phục cơ đồ, chiếu theo ân điển lớn của nước, năm đó duy có trưởng chi của ngu tộc là Trịnh Duy Bộ, đội ơn bề trên duyệt, ban sắc cho con cháu công thần, chuẩn cho một suất được ấm phong, còn năm chi của ngu tộc do phân cư cách trở, không thể cùng nhau hội họp, nên liều lĩnh tâu lên rằng: Ngoại tôn tông phái nhà Lê, toàn tộc vẫn chưa được cùng các chi phái triều trước được hưởng ân trạch của Thánh triều.

Nay mừng thánh giá [vua Minh Mệnh]tuần du Bắc Hà, hàm ý suy ân, u linh cùng thoả, do vậy bèn cung kính sao lục gia phả, cùng sắc mệnh thụ phong của tiền tổ, cũng như kê khai sơ lược số đinh của sáu chi nội tộc đính kèm phía sau, cúi mong bề trên cao minh sáng suốt, soi xét cho dư duệ của công thần ngoại tông triều cũ, điều tra khám thực, khiến ngu tộc hưởng ân triêm, thực chẳng dám nêu sai sự thực. Vậy nay kính cẩn khai trình.

Ngày 21 tháng 11 niên hiệu Minh Mệnh thứ 2 (1821).

Theo lời tấu trình thì chi trưởng của dòng cụ Trịnh Khắc Phục đã được triều Nguyễn ban sắc cho con cháu công thần, chuẩn cho một suất được ấm phong, các chi còn lại chưa được hưởng ân trạch của Thánh triều. Mừng vua Minh Mệnh tuần du Bắc Hà, các chi còn lại bèn cung kính sao lục gia phả, cùng sắc mệnh thụ phong của tiền tổ, cũng như kê khai sơ lược số đinh để đề nghị vua ban ân triêm cho con cháu công thần triều trước. Văn bản này được viết vào năm 1821 (năm Minh Mệnh thứ 2).

Vậy GP2 sao chép từ gia phả nào ? Cũng trong bản này, về thời gian ghi như sau :

[Lập gia phả] ngày mồng 6 tháng 3 niên hiệu Chính Trị thứ 5 (1562).

     Ngày 25 tháng 4 niên hiệu Thành Thái thứ 9 (1897) soạn lại theo gia phả chính.

            Tuy nhiên, theo GP3 thì ngày mồng 6 tháng 3 niên hiệu Chính Trị năm thứ 5 là ngày lập mộ an táng cụ Trịnh Khắc Phục tại Nông Cống!

Căn cứ vào đó, ta có thể dự đoán, dòng họ cụ Trịnh Khắc Phục có gia phả muộn nhất là vào niên hiệu Chính Trị thứ 5 (1562).

2.3. Đoạn đầu của cuốn GP3 ghi: “Ngày 24 tháng 7 Nhâm Dần – năm Thành Thái thứ mười bốn (1902) con cháu của chi trưởng Lê Tụ Hiệp, là thuộc chi của Công thần Lê Khắc Phục phụng sao gia phả công thần”. Đây cũng là cuốn sao lại gia phả. Rất tiếc, các bậc tiền nhân không ghi rõ cuốn gia phả dùng để sao lại được lập năm nào.

Ba cuốn gia phả nêu trên, vì cùng chung một gốc Tổ nên phần đầu cơ bản giống nhau và cũng nhiều thông tin trùng khớp với quốc sử như Lam Sơn thực lục, Đại Việt sử kí toàn thư, Đại Việt thông sử,… Có thể khẳng định rằng, ba cuốn trên đều xuất xứ từ một cuốn gốc nhưng cuốn gốc là cuốn nào thì chưa thể làm sáng tỏ được. Chỉ biết rằng, năm 1562 có lập gia phả nhưng cuốn lập năm 1562 cũng không phải là cuốn đầu tiên. Vì tư liệu trong gia phả chép từ thời nhà Trần, cách năm 1562 hơn 300 năm. Ba trăm năm, nếu không được các đời trước ghi chép (dưới dạng gia phả hoặc dạng gần như gia phả) để lưu truyền thì lấy đâu ra tư liệu để lập gia phả vào năm 1562 ? Như vậy, cuốn gia phả 1562 chắc chắn là cuốn lập lại trên cơ sở của cuốn (hoặc nhiều cuốn) khác trước đó.

  1. Những điểm giống và khác nhau của ba cuốn gia phả.

Vì cùng một gốc Tổ, lại có thể cùng được sao chép từ một cuốn hay sao chép của nhau nên các cuốn gia phả này có rất nhiều điểm giống nhau, thậm chí giống đến cả trong nhiều chi tiết. Nhưng do mục đích viết, phạm vi bao quát, trình độ Hán tự không đồng đều và có thể do cả dạng tự của chữ Hán dễ tạo sự nhầm lẫn (chữ tác đánh chữ tộ) cũng như vấn đề dịch thuật, thậm chí cả sao chép, in ấn … nên cũng có nhiều điểm không giống nhau.

3.1 Về các đời trước cụ Trịnh Khắc Phục

Các thế hệ từ cụ Khởi Tổ (Trịnh hầu tước) đến trước cụ Thủy Tổ (Bình Ngô Khai Quốc Công Thần Trịnh Khắc Phục) đều đựơc cả 3 cuốn ghi chép cơ bản giống nhau đối với những sự việc cùng đề cập tới.

Cuốn GP1 có lẽ là cuốn gia phả chính của dòng họ này, được nhiều thế hệ bổ sung, tục biên cho đến cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX nên ghi chép đầy đủ các thế hệ trước cụ Trịnh Khắc Phục. Về cơ bản, GP1 có nội dung thống nhất với Đại Việt thông sử của Lê Quí Đôn. Xin so sánh bằng 2 đoạn dẫn ra dưới đây để thấy tính chân thực của sự thực lịch sử được ghi chép trong 2 loại sử liệu đó.

* GP1 ghi: Vốn xưa, ông khởi tổ họ ta là tước Hầu, sinh được ông Trịnh Thậm, chánh quán tại xã Cổ Cừu, huyện Đông Sơn, đi chơi đến xã Thuỷ Chú, thấy đất đai ở đó bằng phẳng, rộng rãi, rừng núi rậm tốt, ruộng vườn béo tốt, xây dựng nhà cửa ở đó. Chỉ sau ba năm thành cơ nghiệp. Người lấy vợ là bà Lê Thị Hống, sinh con trai là ông Trịnh Thảm, sau được vua Lê tặng tước Hiến quốc công Trịnh Thảm (con ông Trịnh Thậm). Ông Trịnh Thảm lấy bà Lê Thị Lâm, sinh được 4 người con trai. Con đầu là ông Trịnh Sai. Ông Trịnh Sai lấy bà Lê Thị Náo, sinh người con trai đầu lòng là ông Trịnh Thốn và người con gái thứ là Trịnh Thị Ngọc Thương. Ông Trịnh Thốn được vua Lê tặng tước Diên chu hầu Trịnh Thốn (con ông Trịnh Sai). Ông Trịnh Thốn lấy bà Lê Thị Thai, sinh được hai người con trai. Trai đầu là Lượng, thứ là Di. Bà Trịnh Thị Ngọc Thương lấy ông Lê Khoáng, làng Lam Sơn, tức là Lê Tuyên tổ hoàng đế, được phong là Chính cung (vợ cả) Trinh từ Hoàng thái hậu. Bà sinh được 3 người con trai. Con đầu là Học, tức Hoàng thái tử (con đầu của vua). Con thứ hai là Trừ, con thứ ba là Lợi và ba người con gái. Người con gái đầu là công chúa Ngọc Vị, thứ hai là công chúa Ngọc Biện, thứ ba là công chúa Ngọc Biền. Sau, người con trai út tên là  Lợi lên làm vua, tức là Lê Thái tổ Cao Hoàng đế. Người con gái út là bà Lê Thị Ngọc Biền (chị ruột Lê Lợi), khi Lê Lợi còn ấu thơ, bà có công bồng bế, khi Lê Lợi đánh giặc dựng nước, bà lại có công vận chuyển, cung cấp lương thướng nên đến khi Lê Lợi lên làm vua, phong cho bà là Đệ nhất Quốc trưởng công chúa, gả cho ông Trịnh Nhữ Lượng làm vợ cả và tặng cho ông Trịnh Nhữ Lượng tước Phò mã Đô uý Huyện thượng hầu (Trịnh Nhữ Lượng tức Trịnh Sai chi tử). Bà Ngọc Biền sinh ông tổ thứ nhất  (đệ nhất thế tổ) là Trịnh Khắc Phục. Ông Trịnh Khắc phục cùng với cha là Trịnh Nhữ Lượng giúp vua Lê Thái tổ (Lê Lợi) khởi nghĩa Lam Sơn (Trịnh Khắc Phục gọi Lê Lợi là cậu ruột).

*Đại Việt thông sử của Lê Quí Đôn:

Tuyên Tổ Trịnh hoàng hậu

                               [mẹ vua Thái Tổ]

Thánh Từ Ý Văn hoàng thái hậu họ Trịnh, tên húy là Ngọc Thương, người xã Thủy Chú, huyện Lôi Dương, tổ tiên húy là Thậm, vốn người sách Mộc Trưng phủ Thanh Hoa.

Cụ [Thậm] đi bắn chim qua đất Thủy Chú, mến cảnh nơi này rừng cây xanh tốt, ruộng đất màu mỡ, nên dời đến ở đây. Ông nội tên là Tám, làm qua đời Trần, khi đi đánh Chiêm Thành, có công bắt được con voi trắng, được trao chức Đại toát nữu (cũng như làm tướng)

Con trai tên là Sai, là cha sinh ra hoàng hậu. Sai nối chức cha làm Đại toát nữu, sinh được một trai một gái. Con trai tên là Thốn nối chức cha, con gái tức là cụ bà [Ngọc Thương]. Khi cụ về với cụ ông, ở làng Lam Sơn, thì các tù trưởng người man là Cầm Lô, Cầm Lạn cướp của dân địa phương. Cụ Tuyên tổ cùng với cụ bà [Thương] dời đến ở Thủy Chú, sinh ra Chiếu Hiếu đại vương Học và vua Thái Tổ, lại sinh ra ba gái là quốc trưởng công chúa Ngọc Tá, quốc trưởng công chúa Ngọc Vinh, quốc trưởng công chúa Ngọc Tiên.

Hoàng hậu [cụ bà Thương] khéo giữ đạo làm vợ, thờ cha mẹ hết lòng hiếu kính, lấy ơn huệ đối xử với họ hàng, dùng lễ nghĩa dạy con cháu, dốc hầu bao, nghiêng bồ thóc mà chu cấp cho người nghèo, xót thương kẻ côi cút, mọi người đều ca tụng đức tốt của hoàng hậu; có nhiều người quy phục, gia nghiệp càng thêm thịnh vượng. Ngày mất, nơi táng của hoàng hậu đều không truyền lại. Năm Thuận Thiên thứ nhất [1428] truy tôn là Trinh Từ Ý Văn hoàng thái hậu, tặng cụ tổ của hoàng hậu [cụ Thậm] là Triệu Ý hầu; ông nội của hoàng hậu [cụ Tám] là Hiến quốc công ; cha là Sai làm Hựu quốc công. Năm Thiệu Bình thứ tư [1437] tôn thêm [cụ bà Thương] Trinh Từ Văn Trang Hiến hoàng hậu([2]).

So sánh hai đoạn trên, ta thấy cơ bản giống nhau. Về tên người, chỉ khác một vài chỗ: GP1 ghi là Thảm còn Lê Quí Đôn ghi là Tám hoặc tên các con gái của Lê Khoáng (thân sinh Lê Thái Tổ) có khác nhau giữa hai tài liệu. Do mục đích viết sử và lập gia phả khác nhau nên GP1 ghi chép tỉ mỉ, đầy đủ hơn.

Cuốn gia phả của dòng cụ Trịnh Khắc Phục có trước thời Lê Quí Đôn([3]) vài ba thế kỉ nên có thể giả thiết rằng, khi viết về bà mẹ vua Lê Thái Tổ, Lê Quí Đôn có thể tham khảo tư liệu từ gia phả của dòng họ này.

Cuốn GP2 không ghi đầy đủ như GP1 mà chỉ ghi từ cụ Tổ 4 đời của Trịnh Khắc Phục, còn cuốn GP3 thu hẹp hơn, chỉ ghi từ cụ Tổ 3 đời.

Trong các đời này, có tên 1 người ghi không thống nhất. Ông nội cụ Trịnh Khắc Phục, GP1 ghi là Thốn giống như Đại Việt thông sử, còn GP2 ghi là Trấp.

Theo quy tắc viết chữ Hán, người ta có thể viết chữ thốn ()  bị đọc nhầm sang chữ trấp (廿) chứ không ai viết chữ trấp bị đọc nhầm sang chữ thốn. Chữ thốn () có 3 nét. Đầu tiên viết nét ngang (), sau đó viết nét sổ hất (), cuối cùng là nét chấm (), còn gọi là chủ. Khi viết chữ này, sổ hất bị kéo dài ra, nét chấm cũng viết dài hơn (hoặc viết dịch lên trên) nên dễ bị đọc nhầm là chữ trấp. Còn chữ trấp (廿), đầu tiên viết nét ngang, sau đó đến nét sổ bên trái rồi nét sổ bên phải thành bộ củng (). Cuối cùng là viết nét ngang dưới hai nét sổ thì thành chữ trấp(廿). Căn cứ vào đây cũng như đối chiếu Đại Việt thông sử, chúng tôi cho rằng GP1 ghi tên Thốn là chính xác.

Do có mối quan hệ đặc biệt với Lê Lợi (mẹ Lê Lợi thuộc dòng họ Trịnh Khắc Phục, mẹ Trịnh Khắc Phục là chị ruột Lê Lợi, Lê Lợi là cậu ruột của Trịnh Khắc Phục) nên cả 3 cuốn đều ghi sự kiện này.

Chị gái Lê Lợi, mẹ cụ Trịnh Khắc Phục, GP1 ghi là Biền (), GP2 cũng ghi là Biền (), GP3 ghi : . Chữ này có 2 âm đọc là bình hoặc biền. Đại Việt thông sử ghi là Tiên.

Còn một vài chỗ không thống nhất như tên các con của cụ Lê Khoáng (cha Lê Lợi) nhưng vì không thật sự liên quan nên không nêu ra đây.

3.2 Các đời từ cụ Trịnh Khắc Phục về sau

Như trên đã đề cập, do mục đích, phạm vi bao quát khác nhau nhưng vì cùng một gốc tổ nên 3 cuốn gia phả có nhiều điểm giống và khác nhau. Ở đây, chỉ có thể nêu một vài nét khái quát nhất.

Điểm giống nhau cơ bản nhất là sự ghi chép công trạng của cụ Trịnh Khắc Phục và vài ba đời sau đó cũng như chức vụ các cụ đảm nhiệm và tước vị các cụ được phong tặng. Qua đây, các cuốn gia phả đã làm nổi bật được những cống hiến to lớn của dòng họ Trịnh Khắc Phục cho nước Đại Việt trong một thời gian khá dài, từ  thuở nếm mật nằm gai cùng Lê Lợi khởi nghĩa cho đến khi trung hưng nhà Lê dưới sự chỉ huy của Nguyễn Kim, Trịnh Kiểm.

Theo GP1, cụ Trịnh Khắc Phục có 8 người con trai và 6 người con gái. Về con gái, chỉ ghi tên con út. Các con trai gồm Trịnh Bá Nhai, Trịnh Trọng Ngạn, Trịnh Trọng Phong, Trịnh Thúc Thông, Trịnh Thúc Tùng, Trịnh Đại Hưng, Trịnh Như Sơn và Trịnh Quí Nham.

Theo GP2: “…ông sinh 10 người nam  nữ là Trịnh Ngọc Trân, Trịnh Ngọc Chấn, Trịnh Ngọc Đôi, Trịnh Công Cần, Trịnh Ngọc Ngạn, Trịnh Thúc Thông, Trịnh Bá Thập, Trịnh Thái Kỳ, Trịnh Như Sơn, Trịnh Quý Tàng”.

Còn GP3 viết: “Ngài sinh được mười người con cả trai lẫn gái: Trịnh Thị Ngọc Trân, Trịnh Thị Ngọc Chân, Trịnh Thị Ngọc Diệu, Trịnh Thị Ngọc Khoán, Trịnh… Ngọc Ngạn; con trai thứ ba là Trịnh Thúc Thông, con trai thứ tư là Trịnh Thúc Tùng, con trai thứ năm là Trịnh Như Kỳ , con trai thứ sáu là Trịnh Như Sơn, Trịnh Quý Nham”.

Xin xem bảng sau (chỉ ghi tên con trai) để thấy sự giống và khác :

TT GP1 GP2 GP3
1 Trịnh Bá Nhai Trịnh Công Cần
2 Trịnh Trọng Ngạn Trịnh Ngọc Ngạn Trịnh Ngọc Ngạn
3 Trịnh Trọng Phong
4 Trịnh Thúc Thông Trịnh Thúc Thông Trịnh Thúc Thông
5 Trịnh Thúc Tùng Trịnh Thúc Tùng Trịnh Thúc Tùng
6 Trịnh Đại Hưng Trịnh Thái Kỳ Trịnh Như Kỳ
7 Trịnh Như Sơn Trịnh Như Sơn Trịnh Như Sơn,
8 Trịnh Quí Nham Trịnh Quý Tàng Trịnh Quý Nham

 

 

Người con thứ 2, 4, 5,7, cả ba cuốn đều thống nhất. Người con trai thứ 8, GP1, GP3 giống nhau và khác với GP2. Điều này cũng có thể lí giải được, bởi chữ Nham (巖) và chữ Tàng (藏), tự dạng gần giống nhau, dễ nhầm lẫn. Chỉ còn người thứ nhất, thứ 3 và thứ 6 là chưa khớp.

Trước hết, cần khẳng định rằng, người trai cả là Trịnh Công Cần ghi trong GP2 và Trịnh Ngọc Ngạn ghi trong GP3 là không đúng, Trịnh Trọng Ngạn là con trai thứ 2 chứ không phải con trưởng. Trong Đại Việt thông sử, Đại Việt sử kí toàn thư và một số tài liệu lịch sử khác đều ghi Trịnh Bá Nhai là con trưởng của Trịnh Khắc Phục, lấy An Nam công chúa (chị gái vua Lê Thánh Tông), được phong làm Phò mã đô úy. Vì vậy GP1 ghi chép về cụ Nhai là hoàn toàn chính xác. Cụ Trịnh Khắc Phục có một người con là Trịnh Trọng Phong. Nhiều tài liệu lịch sử giai đoạn này cũng xác nhận như thế. Xin dẫn sử liệu từ Đại Việt thông sử của Lê Quí Đôn :

Huy từ hoàng thái hậu họ Trịnh, húy là Tuyên, người xã Thủy Chú huyện Lôi Dương, là cháu gái của Dương Vũ  công thần Ngọc quận công [Trịnh Khắc Phục], con gái thứ tư của quan Đô đốc thiêm sự Trịnh Trọng Phong([4]).

Còn lại người con thứ 6, cần phải có thêm tư liệu thì mới có thể khẳng định được.

GP2 viết cụ Trịnh Khắc Phục có 6 người con, chia làm 6 chi, đang ở 6 địa điểm là Vân Đô, Thủy Chú, Khổng Tào, Đội Trượng, Hoa Duệ, Thạch Tổ. Thực ra, trong 6 địa điểm ấy thì 3 địa điểm Vân Đô, Thủy Chú và Thạch Tổ, những người họ Trịnh đều là hậu duệ của cụ Trịnh Trọng Ngạn, tức đều cùng một chi. Hậu duệ đời thứ 5 của cụ Tổ Chi Trịnh Trọng Ngạn sinh sống tại 2 nơi là Vân Đô, Thủy Chú.  Hậu duệ đời thứ 6 của cụ Ngạn có 1 người về quê ngoại Thạch Tổ sinh cơ lập nghiệp. Đây là sự nhầm lẫn của GP2. Viết như GP2 chúng ta có thể tưởng rằng 6 chi sinh thành từ Trịnh Khắc Phục đang ở 6 địa phương!

GP3 cũng có sự nhẫm lẫn tương tự. Tuy nhiên, cả GP2 và GP3 cũng cho ta điều thú vị: Ít nhất, gia phả không sao chép sử sách, không “thấy sang bắt quàng làm…gia phả” mà tự ghi phả, có chỗ trùng, có chỗ trúng mà cũng có chỗ khiếm khuyết.

  1. Vai trò của dòng tộc Trịnh Khắc Phục qua gia phả và chính sử

Nhiều người con của dòng họ cụ Trịnh Khắc Phục vừa được sử sách lưu danh vừa được Gia phả ghi chép khá cụ thể, song khi đối chiếu với tài liệu lịch sử thì cũng có độ vênh hoặc độ đậm nhạt khác nhau. Điều này có thể lý giải được. Chính sử chỉ ghi những sự kiện lớn, mang tính khái quát, chú ý nhiều tới các vị có nhiều công trạng. Phạm vi quan tâm của gia phả là một gia đình, một dòng họ nên có điều kiện ghi chép tỉ mỉ hơn. Sự kiện này đối với sử gia là không đáng ghi lại nhưng với người chép phả lại là một sự kiện đáng ghi, đáng lưu truyền cho hậu thế. Người ghi chính sử phụ thuộc nhiều vào quan điểm nhìn nhận của từng vương triều, từng thời đại. Trừ những điều kỵ húy, người chép phả của các dòng họ nơi thôn dã ít bị chi phối về quan điểm, dù không phải bao giờ cũng thế. Và cũng không loại trừ mối quan hệ của người chép sử đối với một số nhân vật và trình độ cũng như tâm lý chung thường đề cao, nói quá của người lập gia phả. Hơn nữa, tên các nhân vật lịch sử có những trường hợp không trùng khớp giữa gia phả và chính sử.([5])

Khi nghiên cứu gia phả dòng họ Trịnh Khắc Phục, để đảm báo tính khách quan nên chúng tôi cố gắng kết hợp, điều chỉnh trong điều kiện có thể giữa gia phả và tài liệu lịch sử.

4.1. Trước khởi nghĩa Lam Sơn

Công lao đầu tiên của dòng họ này đối với nước Đại Việt và vương triều Hậu Lê là sự cưu mang gia đình Lê Khoáng (cha Lê Lợi) từ thưở loạn lạc. Sử sách ghi rằng: “Khi cụ (bà Trịnh Thị Ngọc Thương- mẹ Lê Lợi) về với cụ ông (ông Lê Khoáng- cha Lê Lợi), ở làng Lam Sơn, thì các tù trưởng người man là Cầm Lô, Cầm Lạn cướp của dân địa phương. Cụ Tuyên tổ cùng với cụ bà [Thương] dời đến ở Thủy Chú” ([6]). Cũng tại quê mẹ, Lê Lợi cất tiếng chào đời: “Khoáng lấy vợ người Chủ Sơn (Chủ Sơn nay là Thủy Chú) là Trịnh Thị (tên húy là Thương), đến năm Ất Sửu, tháng 8 ngày mùng 6, sinh ra vua tại hương Chủ Sơn”.([7]) Lê Lợi trở thành người anh hùng dân tộc do nhiều yếu tố tạo nên, trong đó, lời ru của người mẹ họ Trịnh từ thưở ấu thơ, sự dạy dỗ của người cha họ Lê và người mẹ họ Trịnh (Con dại cái mang) là một yếu tố cực kì quan trọng, có tính bền vững và quyết định khá quan trọng trong việc hình thành nhân cách anh hùng của ông.

Lê Lợi khởi nghĩa thành công do nhiều nguyên nhân, trong đó có một nguyên nhân là tập hợp, đoàn kết được toàn dân. Về điều này, mẹ của ông đã tạo tiền đề từ khi ông còn trẻ: “ Hoàng hậu [cụ bà Thương] khéo giữ đạo làm vợ, thờ cha mẹ hết lòng hiếu kính, lấy ơn huệ đối xử với họ hàng, dùng lễ nghĩa dạy con cháu, dốc hầu bao, nghiêng bồ thóc mà chu cấp cho người nghèo, xót thương kẻ côi cút, mọi người đều ca tụng đức tốt của hoàng hậu; có nhiều người quy phục, gia nghiệp càng thêm thịnh vượng([8])”.

Có một câu chuyện mang yếu tố tâm linh do chính Lê Lợi kể lại trong Lam Sơn thực lục: Nhà sư Trịnh Bạch Thạch chỉ dẫn cho Lê Lợi táng mộ tổ tiên vào khu đất phát đế vương. Nhà sư ấy là một người con của dòng họ Trịnh. Đằng sau yếu tố phong thủy, tử vi, ta thấy nhà sư Trịnh Bạch Thạch có thể biết xem tướng số, biết nhìn người để tạo điều kiện, để giúp đỡ và gửi gắm niềm tin vào một con người sẽ trở thành vị anh hùng dân tộc.

Trong bài “Tìm thấy hiện vật bằng đá thời Lê Thánh Tông” của Lê Xuân Kì đăng trên báo Nhân dân chủ nhật, số 26 (501) ngày 27 tháng 6 năm 1993, khi viết về mảnh đất làng Thủy Chú, nơi sinh ra Lê Lợi, có đoạn “Trong lòng đất của làng Mường nhỏ này còn chôn nắm nhau của vị vua sáng lập ra triều Hậu Lê kéo dài 362 năm. Ông đã khóc tiếng khóc chào đời ở quê ngoại và sau này cả họ ngoại đã theo ông bình định giặc Minh”.

            Được sự giáo dục của gia đình, của truyền thống gia tộc – một gia tộc nhiều đời làm quan cho nhà Trần, con cháu dòng Trịnh Khắc Phục có nhiều đời, nhiều người một lòng một dạ phụng sự Tổ Quốc, nhất là dưới triều Hậu Lê. Đây là một đóng góp quan trọng của dòng họ Trịnh Khắc Phục: đóng góp hiền tài, cung cấp lương thần cho đất nước.

5

(Đình họ Trịnh tại Vân Đô, Đông Minh, Đông Sơn, Thanh Hóa – nơi thờ cụ Trịnh Khắc Phục.)

4.2. Trong khởi nghĩa Lam Sơn

Tên tuổi của những người con dòng Trịnh Khắc Phục đã được sử sách lưu lại ngay từ khi Lam Sơn tụ nghĩa. Dấu ấn đậm nét nhất là cụ Trịnh Khắc Phục.

Thời kì tiền khởi nghĩa là thời Lê Lợi tụ tập hiền tài, tích lũy binh lương v.v.. chuẩn bị khởi nghĩa. Nhiều hào kiệt tụ tập về đây như Lê Văn Linh, Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Lưu Nhân Chú, Trịnh Vô… Trịnh Khắc Phục (cùng cha là Trịnh Nhữ Lượng) có mặt ngay trong những ngày ấy. Ngày mùng 2 tết Canh Thân (tức ngày 7/2/1418) Lê Lợi tổ chức hội thề tại Lũng Nhai, xưng là Bình Định vương, phất cờ khởi nghĩa chống quân xâm lược phương Bắc. Ngay hôm đó, vua cử 50 người (có tài liệu ghi 51) “làm tướng văn tướng võ chia nhau đốc suất đội quân Thiết đột ra đối địch với quân Minh”. Trong danh sách ấy, Trịnh Khắc Phục xếp ở vị trí thứ 15.

Do có nhiều công trong cuộc kháng chiến, sau khi đuổi được giặc Minh, ngày mùng 3 tháng 4 năm 1429, ông được vua ban biển ngạch công thần: Thượng trí tự Trước phục hầu, và được ban Quốc tính – mang họ vua([9]).

Xin điểm qua sơ lược một số trận đánh lớn mà ông tham gia.

– Ngày 20 tháng 11 năm 1421, giặc Minh đem hơn 10 vạn binh đến ải Kính Lộng (gần Lam Sơn, nay thuộc huyện Cẩm Thủy, Thanh Hóa). Quân của ta rất ít, do đây chỉ là những năm đầu Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa. Theo mưu lược binh pháp đem quân nhàn đợi đánh quân mệt mỏi, ngay đêm đó, Lê Lợi chia quân đánh úp, phá được 4 doanh trại giặc. Đại quân giặc thất bại, đành phải rút lui. Trịnh Khắc Phục là tướng tham gia chỉ huy 1 trong 4 cánh quân ấy([10]).

– Sau một thời gian bị bao vây (Khi Linh Sơn, lương hết mấy tuần/ Khi Khôi huyện quân, không một đội – Bình Ngô đại cáo), theo kế của Nguyễn Chích, Lê Lợi chuyển hướng chiến lược, tiến quân vào Nghệ An, mở đầu cho một giai đoạn mới: liên tục tiến công và liên tục chiến thắng vang dội. Cùng với nhiều tướng lĩnh khác, từ đây tướng Trịnh Khắc Phục lúc chiến đấu ở Nghệ An, lúc đưa quân vào đánh úp ở Thuận Hóa, khi hành quân thần tốc ra Bồ Đề (Gia Lâm – Hà Nội ngày nay) bao vây Vương Thông. Giặc cầu cứu viện binh, An viễn hầu Liễu Thăng đem 10 vạn quân theo  đường Khâu Ôn tiến sang.

– Ngày 18 tháng 9 năm 1428, ông cùng Lưu Nhân Chú (anh cùng mẹ khác cha) lĩnh 1 nghìn quân kéo thẳng đến ải Chi Lăng phục sẵn chỗ hiểm yếu. Trần Lựu ra khiêu chiến trước, giả thua bỏ chạy. Liễu Thăng thân chinh đốc quân đuổi theo, vừa đến chỗ quân ta phục kích, các ông Lưu Nhân Chú, Trịnh Khắc Phục cùng với các tướng bốn bề nổi dậy, chém được Liễu Thăng làm cho Vương Thông buộc phải xin hàng, chấm dứt ách đô hộ tàn bạo của bọn xâm lược phương Bắc([11]).

– Sau chiến thắng nhà Minh,  ông Trịnh Khắc Phục vâng mệnh vua Lê cùng nhà Minh lập đồng trụ để phân định biên giới giữa hai nước ta và Tàu.

Khi lập cột đồng có lời thề rằng: “Giao Chỉ chi a, Đại Minh như hà, tự kim hướng hậu, mạc cử can qua, Thiên triều, Nam Việt, lưỡng quân tướng hoà, nhược công tiểu quốc, thiên thượng tồi phá, An Nam tiến phụng, bị lễ hương hoa, thiết lập đồng trụ, lưu truyền Lê gia.”

Nghĩa là: “Quận Giao Chỉ như trái núi, nhà đại Minh như con sông, từ nay về sau không đánh nhau. Nhà Minh, Việt Nam hai nước giao hoà. Nếu đánh nước nhỏ, trời sẽ xử phạt. Hàng năm nước An Nam tiến cống hương hoa. Nay dựng cột đồng, lưu truyền cho con cháu nhà Lê([12]).

Chính sử không chép bài thơ-thề này, chúng tôi giới thiệu để quý vị tham khảo. Gia phả các chi đều chép rằng do “hữu công lập đồng trụ” nên Trịnh Khắc Phục được “phong Ngọc Sơn hầu

4

(Tấm bia ghi cung tiến khi trùng tu khu lăng mộ họ Trịnh tại xã Thủy Chú (nay là Xuân Thắng, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa), trong đó đoạn đầu ca ngợi công ơn cụ Trịnh Khắc Phục.)

4.3. Trịnh Khắc Phục trong chính sự Đại Việt từ thời Thái Tổ đến Thánh Tông

Đây là thời kì nhà Lê xây dựng, củng cố chính quyền để phát triển đất nước, đưa chế độ phong kiến Việt Nam phát triển cực thịnh ở thời Lê Thánh Tông.

Sinh ra trong một gia đình nhiều đời làm quan từ triều Trần, cụ Trịnh Khắc Phục tận tụy với ba vương triều từ Lê Thái Tổ đến Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông. Cụ có 8 người con trai, trong kháng chiến chống Minh chưa trưởng thành. Hòa bình lập lại, khi đã tu thân, tề gia, tất cả 8 người con của cụ đều tham gia triều chính góp phần làm cho thiên hạ thái bình. Hậu duệ đời thứ 3 đến thứ 6, không ít người lập nhiều công trạng mà sử sách vẫn còn ghi.

Giai đoạn này, trong gia phả không thấy ghi chép gì. Ở đây có một nguyên nhân rất tế nhị liên quan đến cái chết của Ngài. Tư liệu nghiên cứu phần này đều lấy trong chính sử. Từ chính sử, có thể khẳng định cụ Trịnh Khắc Phục giữ nhiều trọng trách từ triều Thái Tông và Nhân Tông, là quan đại thần đầu triều([13]) đóng góp to lớn cho sự phát triển của nước Đại Việt thời bấy giờ.

Sau chiến tranh, vị võ quan lăn lộn trên chiến trường lại làm nhiệm vụ của một văn quan và võ quan lương thần ([14]) dưới thời kì củng cố và phát triển đất nước. Bước vào thời kì hòa bình, có nhiều việc quan trọng phải làm như đối ngoại, phát triển kinh tế, bảo vệ đất nước, thúc đẩy giáo dục, giữ nghiêm phép nước … Tất cả những trọng trách ấy, dưới triều Lê Nhân Tông, đều có công đóng góp to lớn, thậm chí có trường hợp là công đầu tiên của  Trịnh Khắc Phục. Đây là thời kì hoàn cảnh và độ chín của tuổi tác đã tạo điều kiện tốt nhất cho ông được thể hiện cái tài kinh bang tế thế theo lí tưởng tu tề trị bình của Nho giáo.

Từ thời Lê Thái Tông trở đi liên tục xảy ra những vụ tranh chấp vùng biên giới Tây Bắc hoặc Đông Bắc giữa ta và Tàu nhưng cuối cùng không xảy ra chiến tranh nhờ vào tài ngoại giao của các đời vua.  Đại Việt bấy giờ có lệ xưng thần với nhà Minh, nhưng các vua Lê vẫn luôn phải phòng bị mặt bắc.

“Tháng 2 năm 1448. Biên giới miền đông [vùng Quảng Ninh bây giờ] ngoa truyền rằng nhà Minh sai sứ sang hội khám biên giới. Vua sai Đông đạo tham tri Trình Dục đi dò xét hư thực trở về tâu báo. Dục đến biên giới không hề điều tra, chỉ tin nghe lời người đi đường đã về tâu ngay là có quan hai ti khâm sai của phương Bắc và quan Tổng Binh trấn thủ Quảng Đông đem binh mã tới rất đông.

Vua sai Tư khấu Lê Khắc Phục, Tả nạp ngôn Nguyễn Mộng Tuân (…) đi hội khám”([15])

Chiêm Thành có lệ tiến cống nhà Lê, nhưng cũng có lúc bỏ lệ và thường xâm lấn biên giới phía nam Đại Việt. Chính sách của Đại Việt là cố gắng hòa hảo, có cương có nhu để yên phương Nam nhằm đối phó với phương Bắc mạnh hơn và thâm độc hơn.  Đây là việc làm liên quan đến sinh mệnh, đến sự suy thịnh của đất nước nên phải chọn người đủ tài trí, dũng khí, linh hoạt, tinh tế, nhạy cảm … trong công việc. Suốt triều Lê Nhân Tông, Trịnh Khắc Phục được giao trọng trách thay mặt triều đình trong mối bang giao với Chiêm Thành.([16])

Năm 1443, chúa Chiêm thành là Bí Cai hai lần vây châu Hóa, triều đình bèn đem quân hỏi tội. Vua sai ông Trịnh Khả đem một cánh quân đi trước, còn Bình chương Thụ và Thiếu úy Lê Khắc Phục, thống lĩnh quân các đạo tiến sau. Bí Cai đã phải ra hàng.

Chiêm Thành dù thất bại những vẫn quấy nhiễu biên giới phía Nam. Vì vậy,  ngày 22 tháng Giêng năm 1446, vua lại sai Nhập nội thiếu phó tham dự triều chính Lê Khắc Phục, Nhập nội đô đốc bình chương Lê Thụ, Lê Khả, đem hơn 60 vạn quân đi đánh Chiêm Thành. Quân ta tấn công vào tận sào huyệt của quân Chiêm là thành Chà Bàn (nay thuộc Bình Định), bắt vua Chiêm là Bí Cai.([17])

Tháng 4 năm 1448, khi sứ thần Chiêm Thành mang quốc thư và lễ vật cống nhà Lê, vua ban yến ở Sứ quán và sai Tư Khấu Lê Khắc Phục chủ trì. Sứ thần Chiêm Thành là bọn Bô Sa Phá, Tham Tốt sang Đại Việt vào tháng 7 năm 1449 sau vụ vua Chiêm bị giết. Vua lại sai Lê Khắc Phục cùng Nạp ngôn Nguyễn Mộng Tuân vặn hỏi sứ Chiêm Thành về tội giết vua.

Trước lý lẽ sắc bén, minh chứng không thể chối cãi, sứ Chiêm Thành không trả lời được, chỉ lạy tạ mà thôi.([18])

Ngoài công việc ngoại giao nặng nề, ông còn được vua tin dùng, giao cho nhiều việc nội trị. Từ phát triển kinh tế, giáo dục, xem xét oan sai giữ kỉ cương phép nước cho đến công việc có tính chất riêng tư trong nội tộc nhà vua.

Thái Nguyên là một trấn quan trọng phía Bắc của thành Thăng Long. Vấn đề giao thông cần phải được ưu tiên giải quyết. Tháng 2 năm 1449, vua sai Tư khấu Lê Khắc Phục đem người các cục Bách tác, quân vệ Thiên quan, Tứ sương và quân dân trấn Thái Nguyên đào lại sông Bình Lỗ từ Lãnh Câu (tên châu) đến cầu Phù Lỗ dài 2.500 trượng thông với Bình Than để giải quyết việc đi lại với trấn Thái Nguyên.([19])

Với người có công bị oan sai, ông tìm cách giúp đỡ. Tháng 7 năm 1444, Lê Liệt (họ Đinh, được ban quốc tính, mẹ của ông cũng là chị gái Lê Lợi), một tướng tài thời bình Ngô luôn được Lê Lợi coi là tâm phúc, bị vu cáo. Thái hậu (mẹ vua Lê Nhân Tông) sai giam ông dưới hầm. Trịnh Khắc Phục đã tìm cơ hội thuận lợi, cùng 8 người khác trong họ và công chúa Ngọc Lan  làm đơn khẩn thiết kêu van vua nới phép ban ơn. Vì vậy, tháng 6 năm 1448 Lê Liệt được tha khỏi lao hầm.([20]

Với kẻ coi thường luật pháp, ông nghiêm khắc trừng trị. Bá Viễn xử kiện gây lòng căm hận, tháng  7 năm 1448, ông cùng với Thái úy Trịnh Khả dâng sớ lên vua, Bá Viễn đã bị bãi chức([21]).

Tổ chức thi cử bấy giờ đã có tiêu cực. Là Đề điệu Quốc tử giám từ tháng 4 năm 1448, ông có nhiều suy tư về vấn nạn này. Tháng 8 năm ấy, Đặc tiến nhập nội Tư khấu Đồng bình chương sự Trịnh Khắc Phục được cử làm Đề điệu kỳ thi Đình. Ông muốn cấm các khảo quan tư túi, bèn tâu xin vua bắt họ phải uống máu ăn thề. Kỳ thi năm ấy lấy đỗ được 8 người. Tục các khảo quan phải thề bắt đầu từ đó. Có thể xem đó là người đầu tiên trong lịch sử đã có một đề xuất mạnh để  “phòng chống tiêu cực” trong nền khoa cử Đại Việt.

Tháng 11 năm 1448, chị của vua là Vệ Quốc trưởng công chúa được gả xuống cho Lê Quát, con trai Thái úy Lê Thụ. Đặt lòng tin vào lương thần Trịnh Khắc Phục, vua xuống chiếu cho ông làm chủ việc hôn lễ của Hoàng tộc.

Mặc dù là đại thần đầu triều, đảm nhiệm được nhiều việc trọng đại song  trên quan lộ ông cũng gặp nhiều bất trắc. Sau khi Lê Thái Tổ mất, Đại tư đồ Lê Sát cậy có nhiều công lớn trong kháng chiến nên chuyên quyền, gây nhiều bất ổn cho triều đình. Lê Sát ghen ghét Lưu Nhân Chú (anh cùng mẹ khác cha với Trịnh Khắc Phục) nên đã vu cáo và giết Lưu Nhân Chú. Không chỉ vậy, Lê sát còn tìm cách tâu với hoàng hậu (nhiếp chính) bãi chức Nam đạo hành khiển của ông Trịnh Khắc Phục, chỉ còn giữ chức Phán đại lí chính, cho coi việc hình ngục vào tháng 2 năm 1434 vì ngờ Trịnh Khắc Phục oán mình.

Do sơ suất trong tiến cử người, tháng 8 năm 1437, Thiếu bảo Tri từ tụng Bùi Quốc Hưng và Phán đại tông chính([22]) Tri từ tụng Trịnh Khắc Phục đều bị biếm 1 tư, dù một thời gian sau lại cho phục ngang chức cũ: Tri Bắc đạo quân dân bạ tịch…

Đặc biệt thảm khốc là vào ngày 26 tháng 7 năm 1451, chín năm sau cái án tru di tam tộc đầy oan khiên của Nguyễn Trãi thì Trịnh Khắc Phục và Trịnh Khả cùng hai người trai trưởng của họ cũng bị giết hại bởi bàn tay của một người đàn bà… Trong cái chết của các công thần, về chính lệnh là quyền ở vua, về thâm sâu do chủ ý của các thái hậu nhiếp chính…nhưng không thể phủ nhận một điều: chính các công thần đã làm hại lẫn nhau và tự hại mình!

Về cái chết của hai vị quan đầu triều tài năng, trong  Bài văn đại xá của Lê Nghi Dân viết sau khi lên ngôi, có đoạn :

“Chẳng may Tiên đế đi tuần về miền đông, bỗng băng ở bên ngoài. Nguyễn Thái Hậu muốn giữ vững quyền vị, ngầm sai nội quan Tạ Thanh dựng Bang Cơ làm vua, bắt trẫm làm phiên vương. Sau Tạ Thanh tiết lộ việc ấy lây đến cả Thái úy Trịnh Khả và Tư khấu Trịnh Khắc Phục, Thái hậu bắt giết cả đi để diệt hết người nói ra.

Nhà Sử học Phan Phu Tiên vừa căm giận, mỉa mai, vừa xót xa bàn luận: “Nhân Tông mới lên hai tuổi đã sớm nối ngôi vua, Thái Hậu Nguyễn Thị [Anh, mẹ Nhân Tông] là gà mái gáy sớm, Đô đốc Lê Khuyển như thỏ khôn giữ mệnh (…) bậc túc nho như Lí Tử Tấn, Trình Thuấn Du thì đẩy vào chỗ nhàn, phường dốt đặc ồn ào như đàn ong nổi dậy, (…) Bậc lương thần như Trịnh Khả, Khắc Phục thì kèn cựa mà giết đi ([23])

Cái chết oan ức của hai vị đại thần đầu triều Trịnh Khắc Phục và Trịnh Khả là hệ lụy tất yếu của vụ án bất minh tru di tam tộc Nguyễn Trãi, là một chứng cứ để khẳng định vụ án Nguyễn Trãi là bất minh. Cái chết ấy là minh chứng hùng hồn để khẳng định nhân cách cứng cõi, trung thực, bất khuất của cụ Trịnh Khắc Phục và  cụ Trịnh Khả khiến  kẻ đầy quyền uy cũng phải khiếp sợ.

Nỗi oan khiên ấy, ngay đến cả Nhân Tông (con bà Ngọc Anh) cũng thấu tỏ. Vì vậy, khi bắt đầu đích thân trông coi chính sự, ông đã giúp cho con cháu cụ Trịnh Khắc Phục và cụ Trịnh Khả phần nào nguôi ngoai nỗi đau mất mát: cấp một trăm mẫu quan điền cho bọn (…), Trịnh Khắc Phục, Trịnh Khả.

  1. Trịnh Khắc Phục đã được ban huân tước và giữ các chức vụ sau:

– Kim tử Vinh lộc đại phu,  Thượng trí tự, Trước phục hầu.

– Phán đại tông chính, Đặc tiến nhập nội Tư khấu Đồng bình chương sự, Nhập nội thiếu phó tham dự triều chính,  Nam Đạo Hành khiển, Đề điệu Quốc tử giám.

– Tả Kim ngô vệ, Thượng tướng quân, Thiếu úy, Binh bộ Thượng thư…

Huân tước và chức quan cụ thể như sau:

– Kim tử Vinh lộc đại phu: Hàm tản quan – quan chỉ có hàm chứ không có chức –  có Kim tử vinh lộc đại phu, trật Chánh nhất phẩm văn ban.

– Thượng trí tự: Huân([24]) phong thời Lê, hạng nhất cho quốc tính làm Kim lộc đại phu Tả kim ngô vệ Đại tướng quân; gồm 3 bậc: Trí tự, Đại trí tự và Thượng trí tự.

– Trước phục hầu: Tước([25])  hầu,  có 9 bậc. Trước phục hầu là bậc thứ 9.

– Phán đại tông chính: Quan cao kiêm chức quan thấp gọi là phán, Đại tông chính là chức quan giữ việc hội họp tông thuộc.

– Đặc tiến: Danh hiệu cấp cho những người có địa vị đặc biệt trong liệt hầu.

– Nhập nội: Những đại thần có thêm chữ Nhập nội là chức quan được vua thân tín.

– Nhập nội Thiếu phó: Là một trong tam thiếu, gồm Thiếu sư, Thiếu phó và Thiếu bảo, Trật Chánh nhị phẩm nếu là bên văn, Tòng nhất phẩm nếu là bên võ.

Tư khấu: Là chức trưởng của hình quan.

– Đồng bình chương sự: Cách gọi tên của hàng Tể tướng.

– Nam Đạo Hành khiển([26]): Nhà Lê chia nước ta làm 5 đạo, đứng đầu các đạo là quan Hành khiển. Hành khiển ở các đạo thuộc hàng Nhập nội đại hành khiển trong triều, dưới Tể tướng.

– Đề điệu Quốc tử giám: Chức quan đứng đầu trường thi, Chánh chủ khảo, thường dùng đại thần,  gọi là Đề điệu. Chánh chủ khảo cuộc thi đình là Đề điệu Quốc tử giám.

– Tả Kim ngô vệ: Lê Thái Tổ tổ chức quân đội có 14 vệ Thiết đột, trong đó có vệ Kim ngô. Trong vệ Kim ngô có Tiền vệ, Hậu vệ, Tả vệ và Hữu vệ;

– Thượng tướng quân: Chức quan võ, sau chức Thiếu úy;

– Thiếu úy: Chức quan võ, vị trí thấp hơn Thái úy, Tư mã, cao hơn Thượng tướng.

– Binh bộ Thượng thư: Đứng đầu bộ Binh, tương đương với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ngay nay.

  1. Sau khi mất, Trịnh Khắc Phục nhiều lần được truy phong

6.1. Các sắc phong tại thôn Vân Đô, xã Đông Minh:

-Năm thứ 17, niên hiệu Hồng Đức (1486), vua Thánh Tông tặng tước Thái bảo Ngọc quận công.

-Niên hiệu Cảnh Thống năm thứ ba (1500), vua Hiến Tông phong tước Dực hữu công thần tạc tự Thượng trụ quốc, lại phong thêm tước Thái uý An quốc công.

-Tháng 10 niên hiệu Đức Nguyên (1674-1675), vua Gia Tông lại phong Trung đẳng Phúc thần Đại vương.

-Ngày 13 tháng 3 niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 31 (1770), vua Gia Tông  phong là Thượng đẳng phúc thần  đại vương.

Nhà Nguyễn, từ Gia Long đến Khải Định, nhiều lần gia phong không chỉ cho chi trưởng mà còn cho tất cả các chi thờ phụng cụ Trịnh Khắc Phục trên các tỉnh Thanh Hóa (huyện Nông Cống, huyện Triệu Sơn, huyện Đông Sơn, huyện Thọ Xuân…), tỉnh Hà Tĩnh, Hà Nam …

6.2. Các sắc phong tại xã Đức Hương, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh:

Hoa Duệ, thuộc huyện La Sơn vốn là quê vợ lẽ của Trịnh Khắc Phục, là nơi lập nghiệp của chi họ Trịnh Như Sơn – người con thứ 7 của Ngài. Nhà thờ tại Vũ Quang còn giữ được 3 đạo sắc vua ban (và 1 đạo được phụng sao trong gia phả) cho hậu duệ công thần Trịnh Khắc Phục, với thời gian và các nội dung sau:

– Ngày 08 tháng 12  niên hiệu Phúc Thái  thứ sáu (1648), vua Lê Chân Tông ban sắc chỉ cho đổi họ Lê (họ vua) về họ gốc (họ Trịnh) và đưa về hạng bậc công thần như triều Lê từng xếp.

– Ngày 20 tháng 2  niên hiệu Thành Thái thứ hai (1890), vua Thành Thái ban sắc phong Quang ý Dực bảo Trung hưng Trung đẳng thần cho cụ Trịnh Khắc Phục và đặc biệt chuẩn y việc thờ phụng như cũ.

– Ngày 11 tháng 8  niên hiệu Duy Tân thứ ba (1909), vua Duy Tân ban sắc chỉ đặc biệt chuẩn y thờ phụng như trước, dùng nghi thức Quốc khánh mà tế lễ.

– Ngày 25 tháng 7 năm 1924, nhân dịp lễ Tứ tuần đại khánh (lễ sinh nhật lần thứ 40) của mình, vua Khải Định đã sắc ban lễ Bảo chiếu Đàm ân, trật Long đăng, gia phong làm Trác vĩ Thượng đẳng thần và đặc biệt chuẩn y thờ phụng, dùng nghi thức Quốc khánh mà tế lễ.

6.3. Hậu duệ cụ Trịnh Khắc Phục tụ cư ở rất nhiều nơi. Đến sinh sống ở đâu, lập nhà thờ cụ ở đó. Đến giữa thế kỷ XX, thậm chí gần cuối thế kỷ XX, con cháu của cụ còn giữ được nhiều sắc của các triều nhà Lê, nhà Nguyễn ban cho hậu duệ bậc Công thần Bình Ngô Khai Quốc. Cụ thể là : thôn Vân Đô, xã Đông Minh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa; xã Thủy Chú (nay là làng Chủ, xã Xuân Thắng, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa); xã Khổng Tào huyện Lôi Dương phủ Thiệu Hoá (nay là xã Thọ Bình, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa);  xã Đội Trượng huyện Nông Cống phủ Tĩnh Gia (nay là xã Tân Thọ, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa); xã Thạch Tổ huyện Thanh Liêm phủ Lỵ Nhân xứ Sơn Nam (nay là làng Thạch Tổ, xã Thanh Hà, huyện Thanh Lưu, tỉnh Hà Nam); xã Hoa Duệ huyện La Sơn phủ Đức Thọ xứ Nghệ An (nay là xã Đức Hương, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh).

Sắc của nhà vua thì có giá trị pháp lý, nó là “bia đá”. Còn “bia miệng” – lòng dân thì sao?

Tại thôn Vân Đô, xã Đông Minh, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa, người dân không gọi nơi thờ cụ là đền thờ hay nhà thờ, mà gọi là đình. Và người ta vẫn còn lưu truyền sự kiện sau :

Cuối thế kỷ XIX, sau khi cùng mọi người trong thôn tôn tạo đình làng, con cháu họ Trịnh cũng tu sửa lại nhà thờ vì đã xuống cấp. Khu nhà thờ họ Trịnh nhỏ hơn đình làng song khuôn mẫu thì giống nhau. Một họ có số đinh tương đối nhiều so với các họ khác trong làng lấy cớ họ Trịnh chỉ là một họ trong làng, không được làm nhà thờ giống đình, nơi thờ thành hoàng của làng nên đâm đơn kiện lên quan. Sự việc đã gây nên sự xáo trộn lớn trong làng suốt một thời gian dài.

Quan phủ Thiệu Hóa xử họ Trịnh thua kiện. Họ Trịnh khiếu nại lên quan tỉnh. Quan tỉnh phán rằng, người được thờ tại nhà thờ họ Trịnh có nhiều công lao đối với đất nước, là quan to hơn thành hoàng Vân Đô nên họ Trịnh có quyền được làm nhà thờ giống đình làng. Đáng lý, làng phải tôn cụ Trịnh Khắc Phục là thành hoàng nhưng vì làng đã có thành hoàng rồi nên quan ra lệnh, từ nay trở đi, trước khi làm lễ cúng thành hoàng, làng phải đem lễ vật đến nhà thờ họ Trịnh làm lễ trước. Từ đó, làng Vân Đô có tục lệ này. Và cũng từ đó, dân làng gọi nhà thờ họ Trịnh là Đình họ Trịnh.

Tại thôn Thạch Tổ, xã Thanh Hà, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam có 4 người con trai là hậu duệ đời thứ 11 của cụ Trịnh Khắc Phục từ thôn Vân Đô ra quê mẹ lập nghiệp cách đây khoảng trên 200 năm. Con cháu họ Trịnh nơi này cũng lập nhà thờ và cũng thờ cụ Tổ Trịnh Khắc Phục. Xã Thạch Tổ xưa kia (nay là làng Thạch Tổ) tôn cụ Trịnh Khắc Phục là “Bản cảnh thành hoàng chi thần”([1]). Làng thờ 9 vị thần, trong đó có 6 thiên thần và 3 nhân thần. Cụ Trịnh Khắc Phục là một trong ba nhân thần.

Trừ những nhân vật các làng thờ cúng mang yếu tố mê tín dị đoan, nhân thần thực sự là người được dân làng kính phục. Kính phục đến mức trở thành tín ngưỡng.

Cụ Trịnh Khắc Phục trong lòng dân hai làng mà chúng tôi được biết là thế đấy!

  1. Về con cháu của Trịnh Khắc Phục

7.1. Các con trai của Trịnh Khắc Phục

Sau cái chết của cụ Trịnh Khắc Phục dưới triều Nhân Tông, gia phả không thấy ghi chép gì về sự cống hiến của 7 người con trai còn lại (con trai trưởng là Trịnh Bá Nhai bị giết cùng cha).

Sang triều Thánh Tông, tất cả 7 người đều làm quan và được phong từ tước hầu đến tước công:

– Con trai thứ hai là Trịnh Trọng Ngạn. Đời vua Thánh Tông Thuần hoàng đế giữ chức Tứ vệ quân. Khi vua đến Lạng Sơn,  ông đem quân bảo vệ nên vua phong là Hộ phù Dực vận công thần, Phụ quốc Nam quân Đô đốc phủ, Phó tướng Thái uý Dụ ân hầu.

– Con trai thứ ba là Trịnh Trọng Phong. Đời vua Thánh Tông Thuần hoàng đế có nhiều công lao, được vua phong Dực vận công thần Trung quân Đô đốc phủ, kiêm Đô đốc Thiêm sự Tôn nhân phủ hữu tôn chính, lại phong thêm tước Hiển nghĩa vương.

– Con trai thứ tư là ông Trịnh Thúc Thông. Đời vua Thánh Tông Thuần hoàng đế, một lòng giúp vua, được phong tước Phụ quốc Dực vận công thần Đông quân Đô đốc phủ, kiêm Tứ vệ quân Thiêm sự Tri tôn nhân phủ hữu tôn chính, Hiển khang hầu, lại phong thêm tước Thái uý Đề quốc công.

– Con trai thứ năm là Trịnh Thúc Tùng. Đời vua Thánh Tông Thuần hoàng đế hết lòng giúp vua, thống lĩnh quân cơ, một lòng giúp nước. Vua phong tước Dực vận công thần Đại tướng quân Thanh đô hầu, lại phong thêm Thái uý Vinh quốc công.

– Con thứ sáu là ông Trịnh  Đại Hưng. Đời vua Thánh Tông Thuần hoàng đế  hết lòng giúp vua đánh giặc, lập được nhiều công, được vua phong tước Phụ quốc Dực vận công thần đô đốc, kiêm Tứ vệ, Tiến hưng hầu, lại phong thêm tước Thái uý Huyên quốc công.

– Con thứ bảy là ông Trịnh Như Sơn. Đời vua Thánh Tông Thuần hoàng đế có công hộ giá, được phong tước Bình chương Liệt triều đại phu, Dụ nghĩa hầu. Đến khoảng niên hiệu Hồng Đức, theo vua đi đánh giặc Xiêm, lại trở về Lam Sơn, được phong tước Dực vận công thần, Cẩm y vệ Đô chỉ huy sứ, Dụ trung hầu, tặng Đông quân Đô đốc phủ Chưởng phủ Thái bảo Dụ quốc công.

– Người trai út, ông Trịnh Quý Nham. Đời vua Thánh Tông Thuần hoàng đế  hết lòng giúp nước, được phong tước Phụ quốc Dực vận công thần, Nam quân Đô đốc chưởng phủ kiêm Tứ vệ quân, Thái bảo Quang hưng hầu.

7.2. Các cháu nội của Trịnh Khắc Phục

Có thể do dư âm của vụ oan án Trịnh Khắc Phục, Trịnh Khả nên mãi cuối triều Lê Thánh Tông trở về sau, dòng họ cụ Trịnh Khắc Phục mới xuất hiện nhiều hiền nhân tham gia chính sự, ghi danh sử sách. Đây là giai đoạn nhà Lê Sơ suy thoái. Hôn quân bạo chúa xuất hiện, quần thần tranh giành quyền vị dẫn đến việc Mạc Đăng Dung giết vua Lê, mở ra cuộc nội chiến Lê – Mạc hơn nửa thế kỉ. Nhiều nhân vật lịch sử bị nhìn nhận sai lệch, đánh giá chưa đúng mực do quan điểm lịch sử thời phong kiến. Dòng họ Trịnh Khắc Phục cũng có những người bị như thế. Vì vậy,  nhà sử học V. Antoshchenko cho rằng: “Công lao của dòng họ này [dòng Trịnh Khắc Phục] còn một phần bị bỏ sót do quan niệm cũ của quan chép sử thời xưa.” (Báo cáo Hội nghị Quốc tế Việt Nam học, 1998)([2]).

Sau đây, xin giới thiệu một vài nhân vật chính yếu, có nhiều công lao, được sử sách đề cập đến nhiều nhất.

7.2.1. Ông Trịnh Duy Hiếu (đích tôn của cụ Trịnh Khắc Phục) sinh năm Tân Mùi niên hiệu Thái Hoà thứ chín (1451) dưới triều Lê Nhân Tông. Năm Giáp Thân niên hiệu Quang Thuận thứ năm (1464) mới 13 tuổi ông đã được phong Bình lạc bá và năm Hồng Đức thứ hai (1471) lúc mới tròn 20 tuổi đã được phong Trấn quốc Thượng tướng quân, Nam quân Đô đốc phủ, Tả Đô đốc Bình lạc bá. Năm Canh Tý niên hiệu Hồng Đức thứ 10 (1479) theo vua Lê Thánh Tông đi đánh giặc phía tây, giữ chức Đề đốc Ngự doanh thuỷ bộ quân vụ sự, năm sau được thăng Phụ quốc Thượng tướng quân, Nam quân Đô đốc phủ, Chưởng phủ sự Thái bảo Bình lạc bá. Năm Nhâm Dần niên hiệu Hồng Đức thứ 13 được thăng Tuyên lộc võ thần Phụ quốc Thượng tướng quân, Nam quân đô đốc phủ, Chưởng phủ sự Thái bảo Bình lạc hầu. Thái bảo Bình lạc hầu là người thông minh, ham mê đọc sách, giúp nước từ lúc còn trẻ, ăn nói chừng mực, làm được nhiều việc mà sử sách còn ghi. Ông mất ngày 20 tháng 5 năm Giáp Thìn, niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (1484) thọ 34 tuổi.

Trong văn bia đặt tại mộ ông Trịnh Duy Hiếu do trạng Lương Thế Vinh, bạn đồng liêu soạn có đoạn ca ngợi ông như sau: “Thái Bảo Bình lạc hầu là người thông minh, ham mê đọc sách, giúp nước từ lúc còn trẻ, ăn nói chừng mực, làm được nhiều việc mà sử sách còn ghi. Tiếc thay: mất quá sớm ». Bài minh viết :

Vinh vinh thổ tú

Hỗn hỗn sơn tuyền

Tú linh sạ hợp

Tam thập tứ niên

Dịch ý:

Long lanh sao thổ

Cuồn cuộn nước nguồn

Tinh tú tụ họp

Ba mươi tư năm.”

7.2.2. Ông Trịnh Duy Thận([1]) (cháu nội cụ Trịnh Khắc Phục). Vào đời vua Minh Tông Triết hoàng đế (cha của Lê Chiêu Tông), lúc thì vua giao cho đi sứ nước ngoài, lúc thì điều binh bảo vệ nước, khi tuân lệnh ra hộ vệ quân dinh, được vua phong tước Dực vận công thần Phụ quốc Đông quân Đô đốc phủ kiêm chức Tôn nhân Chưởng phủ Thái bảo Dực quận công Phù hưng hầu. Cuối niên hiệu Quang Thiệu (1522), ông được phong Lỵ quốc công, trấn thủ Thanh Hoa. Bấy giờ Mạc Đăng Dung có mưu đồ chiếm ngôi nhà Lê. Tính kế lâu dài, vua Lê Chiêu Tông phải để hoàng tử Ninh ở lại Tây Đô, sai ông Thận bảo hộ. Khi vua ra Lạc Thổ đánh Đăng Dung bị thua, rồi  bị ép đưa về kinh, ông Thận lánh mình ở sách Thuỷ Chú và sai Lê Quan ẵm hoàng tử Ninh trốn sang nước Ai Lao (Lào) giấu kín. Khi vua Mạc đã cướp ngôi, truy tìm tôn thần nhà Lê để giết, ông che chở vất vả, giữ kín tin tức, trải nhiều gian lao. Đến lúc Chiêu Huân công (Nguyễn Kim) dò tìm con cháu nhà Lê, ông cùng người em con chú ruột là Trịnh Duy Liêu tụ tập những dân trung thành với nhà Lê còn lại tôn hoàng tử lên ngôi vua, dọn dẹp bọn bất tài, bất trung, lập triều đình; cùng Chiêu Huân công hợp lực giúp trung hưng nhà Lê. Rồi đó sắm sửa binh lương, thu nạp hào kiệt, mưu đồ gấp việc tấn công nhà Mạc. Lại sai Duy Liêu vượt biển sang nhà Minh xin quân. Bấy giờ Chiêu Huân công đem quân đi đánh Mạc, ông Thận ở lại giữ vùng thượng du sửa soạn và tụ tập binh mã, cùng các tướng cũ  phủ dụ người Man, người Lạo, luyện sĩ tốt. Việc dựng nước và giữ vững căn bản có công giúp đỡ của ông rất nhiều. Ông mất năm Nguyên Hoà thứ 10 (1542). Ghi nhớ công lao của ông đối với đất nước, ghi nhớ người bạn từng sát cánh với tổ phụ mình trong những ngày gian nan chiến đấu, sau này khi lập nên vương triều, nhà Nguyễn đã đúc tượng ông đem về thờ tại miếu “Lịch đại đế vương” ở kinh thành Huế. Trong Lịch triều hiến chương loại chí, phần Nhân vật chí,  Phan Huy Chú xếp ông vào hàng Tướng có tiếng và tài giỏi thời Lê trung hưng ([2]).

7.2.3. Ông Trịnh Duy Đại (em ruột ông Trịnh Duy Thận), lập được nhiều công trạng thời cuối Lê Sơ, là một bậc đại thần có nhiều công lao và danh tiếng. Đời vua Minh Tôn Triết hoàng đế được phong tước Dực vận Tuyên lộc công thần, Hộ bộ Thượng thư  Thái bảo Văn quận công. Năm 1516, Nguyễn Hoằng Dụ (tổ của  nhà Nguyễn sau này) và Trịnh Duy Sản (em ruột ông) mẫu thuẫn với nhau. Chú của Hoằng Dụ là Văn Lự ngầm hẹn với ông Đại cùng vào trước mặt vua tâu xin hòa giải mâu thuẫn giữa hai người. Khi ông Đại vào triều, Văn Lự bèn rút từ tay áo ra một tờ tâu mật, nói rằng Trịnh Duy Đại cùng với Trịnh Tuy muốn đem con Nguyễn Trinh là Nguyễn Tùng lập làm ngụy chủ, định làm việc bạo nghịch lớn. Rồi bắt lấy ông Đại đem chém, bêu đầu ở ngoài cửa. Hoằng Dụ giết ông Trịnh Duy Đại không chỉ do mâu thuẫn với Trịnh Duy Sản mà còn do lòng đố kị  với một người có nhiều công trạng.([3])

7.2.4. Ông Trịnh Duy Sản  (em ruột ông Trịnh Duy Thận). Từ năm Đoan Khánh thứ 5 (1509) đã là vị quan giữ nhiều trọng trách có nhiều cống hiến cho vương triều. Vì vậy, tháng giêng năm Hồng Thuận thứ 2 (1510), được vua phong làm Mỹ Huệ hầu. Ngày 11 tháng 11 năm 1511,  Trần Tuân nổi loạn ở Sơn Tây, vua sai ông chỉ huy quan quân đi đánh dẹp. Thế giặc rất mạnh nên quân triều đình bị đánh bại, chỉ còn 30 người, nhưng vẫn quyết sống mái với kẻ thù. Giờ Dậu ông Trịnh Duy Sản thình lình xuất hiện, đột nhập vào dinh của Tuân, thấy Tuân mặc áo đỏ ngồi trên giường, liền dùng giáo đâm chết Tuân rồi bắn 3 tiếng súng, reo hò đánh đuổi quân giặc. Định công dẹp loạn Trần Tuân, vua ban cho ông là Nguyên quận công, giao cho coi vệ Cẩm y. Hồng Thuận năm thứ 4 (1512) bọn quan lại Lê Hy, Trịnh Hưng, Lê Minh Triệt làm loạn ở vùng Nghệ An. Vua sai Khang Quận công đi đánh nhưng không được. Ngày 16 tháng 5, vua lại tín cử ông dẹp loạn. Ông đã chém đầu Lê Minh Triệt và bắt sống được Lê Hy, Trịnh Hưng giải về Kinh sư. Tháng giêng năm Hồng Thuận thứ 7 (1515), vua sai ông làm Đô tướng đi đánh Phùng Chương làm loạn ở vùng Tam Đảo. Chương thua chạy. Ngày 6 tháng 3 năm 1516 (Hồng Thuận thứ 8), Thuần Mỹ điện giám Trần Cảo ở trang Dưỡng Chân, huyện Thủy Đường (nay là Thủy Nguyên, Hải Phòng) làm loạn, tự xưng là Đế Thích giáng sinh. Quan quân triều đình được cử đi đánh dẹp đều bị thất bại. Ngày 23 tháng 4, ông Trịnh Duy Sản chỉ huy quân thủy bộ vây bốn mặt thành, quân giặc thua to. Cảo phải đóng chặt cổng thành cố thủ. Đương lúc ấy, Hà Công Chân đem quân đánh Cảo để tranh ngôi vua. Ông lại phải đánh Chân. Chân bị giết. Cảo nhân cơ hội bỏ trốn lên Lạng Nguyên (vùng đất phía bắc sông Cầu đến Lạng Sơn).

Tháng 11 năm 1516, ông lại vâng lệnh vua đánh Cảo ở chùa Sùng Nghiêm trên sườn núi xã Trâu Sơn, huyện Chí Linh (Hải Dương). Do đánh giặc lâu ngày, quân sỹ mỏi mệt, ông bèn làm bài văn để úy lạo tướng sỹ. Bài văn viết bằng chữ Hán, được diễn ra chữ Nôm cho mọi người đều hiểu, lời lẽ thống thiết, bậc thức giả cho là lạ ([4]). Trong bài văn, ông  thể hiện rõ mục đích chiến đấu của mình :

Dưới là mong: cứu dân đen thoát khỏi tai ương ;

Trên là muốn: đặt xã tắc vững như bàn thạch.

Câu này đã thể hiện nghĩa vụ “trí quân trạch dân”(vừa giúp vua vừa làm cho dân được nhờ) của ông.

Trong lúc đang dốc sức dẹp loạn Trần Cảo thì ở Kinh sư, công thần làm nhiều điều nhiễu nhương, giết người man rợ nên ông phải chia quân về đánh dẹp. Lực lượng đánh Cảo bị mỏng, ông hy sinh tại Vạn Kiếp ([5]) (khoảng năm 1516) khi sự nghiệp phò vua an dân còn dang dở.

Dưới triều Lê Tương Dực, vua làm nhiều điều thất đức, chỉ có ông mới dám can gián và can gián nhiều lần. Vua không nghe còn dùng trượng để phạt. Mặc dù mẹ vua Lê Tương Dực là em, con chú ruột của ông Trịnh Duy Sản, nhưng vì sự trường tồn của xã tắc và sự thịnh trị của nhà Lê, nhân việc vua cho xây Cửu trùng đài gây tốn kém tiền của, nhân dân cực khổ trăm bề, ông đã cùng một số quan đại thần nhà Lê buộc phải phế truất vua để cứu dân độ thế. Bởi vậy, các nhà viết sử, do hạn chế về chữ Trung thời phong kiến nên đã không có sự nhìn nhận đúng và khách quan về ông, đúng như nhận xét của nhà sử học V. Antoshchenko nêu ở trên.

Hai ông Trịnh Duy Đại và Trịnh Duy Sản đều bị Lê Quí Đôn trong Đại Việt thông sử ghi nhầm là cháu nội của Thái úy Trịnh Khả, còn quê hương thì ông ghi đúng ở sách Thủy Chú, huyện Lôi Dương. Nhà sử học xếp hai ông vào hàng nghịch thần vì một người giết vua Lê Tương Dực; một người bị vua giết do nghe lời dèm pha, vu khống. Đó là do cách đánh giá nhìn nhận theo quan điểm chép sử phong kiến. Tuy nhiên, nhìn vào câu chữ, ta lại thấy Lê Quí Đôn đã ngầm chứa nhiều lời ca ngợi, thán phục hai ông, nhất là ông Trịnh Duy Sản. Đấy là cách viết sử của những nhà sử học có bản lĩnh, đủ tài năng và xem trọng sự thực, khách quan.

7.2.5. Ông Trịnh Bá Bồng (cháu nội cụ Trịnh Khắc Phục). Đời vua Minh Tôn Triết hoàng đế (bố vua Lê Chiêu tông) có công giúp nước trừ Mạc, được thăng chức Thượng tướng quân, lại được phong tước Phụ quốc Dực vận công thần, Quang tiến Kính lễ hầu. Đến niên hiệu Chính Trị vua Anh Tông Tuấn hoàng đế (1558-1571), vua cấp cho nhân dân xã Khổng Tào làm con để giúp đỡ. Đến khoảng niên hiệu Quang Hưng vua Thế Tôn Kính hoàng đế (1578-1599)  lại phong tước Dực vận công thần Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, An Nam Đô đốc phủ, Thái uý Trấn quốc công. Ngài đã thờ 7 triều vua, là một danh tướng đời Lê trung hưng có nhiều công lao.

7.2.6. Ông Trịnh Duy Liêu (cháu nội cụ Trịnh Khắc Phục). Năm 1533, ông (lúc ấy là Tả đô đốc, cựu thần nhà Lê) đã cùng người anh con bác ruột là Trịnh Duy Thận lập  hoàng tử Lê Ninh lên ngôi vua (Lê Trang Tông) tại Lào, mưu việc lâu dài chống lại nhà Mạc, trung hưng nhà Lê. Xong việc, ông cùng em là Trịnh Duy Liệu sang Tàu xin quân về đánh. Ông đến Yên Kinh (kinh đô nhà Minh) tâu bày kẻ phản nghịch họ Mạc tiếm ngôi làm loạn, chiếm giữ kinh thành, cắt đứt đường sá đến nỗi bỏ việc cống hiến từ lâu, xin đem quân sang đánh. Bộ Lễ nhà Minh ngờ là nói dối, hỏi vặn lại; Liêu viết một bức thư mấy nghìn lời trình bày đầu đuôi, ví mình như Thân Bao Tư ([6]) và Dự Nhượng ([7]) ngày xưa. Người Minh khen. Minh Thế Tông được lời tâu của Liêu, mới sai đem quân đánh Mạc, nhưng vì Đăng Dung đút lót ba ty nên ngày xuất sư hoãn lại. Công việc không thành, cả hai anh em ở lại Trung Quốc.

7.2.7. Ông Trịnh Như Hiến (cháu nội cụ Trịnh Khắc Phục), con của Trịnh Như Sơn, quê ở Hoa Duệ, Nghệ An, giúp vua Lê. Đời vua Hiến Tôn Duệ hoàng đế hộ giá xe vua tới Tây Kinh. Cuộc hành quân này đại thắng, ông được phong Dực vận công thần, đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Tả Đô đốc phủ Thần vũ Tứ vệ, Mậu ân sứ Phúc dương hầu.

7.2.8. Ông Trịnh Như Nghiêu (cháu nội ông Trịnh Khắc Phục), em ruột ông Trịnh Như Hiến, giúp vua Lê. Đời vua Hiến Tôn Duệ hoàng đế, hộ giá nhà vua tới Tây kinh được phong Dực vận công thần, đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Tả Kiểm điểm y vệ Đô chỉ huy sứ, Phúc tộ hầu.

7.2.9. Ông Trịnh Như Thiều (cháu nội ông Trịnh Khắc Phục) em ruột ông Trịnh Như Hiến, giúp vua Lê. Đời vua Hiến Tôn Duệ hoàng đế, hộ giá nhà vua tới Tây kinh được phong Phụ quốc Dực vận công thần, Tả Kim Ngô vệ Đô chỉ huy sứ ty Đô chỉ huy sứ, Tri Kim Đao ty Lực sĩ  hầu điện Kim Quang, Mậu Ân sứ, được phong Tả Đao hầu.

7.3. Về các chắt của Ngài Trịnh Khắc Phục: Chúng tôi chưa có đủ tư liệu và thời gian để tìm hiểu, song không phải không có các nhân vật tiêu biểu như Trịnh Tuy, từng giúp vua Lê lập nhiều công trạng được phong là Vĩnh Hưng hầu hay như Trịnh Phúc Hải

Năm 1516, Trần Cảo nổi loạn, vua sai Trịnh Tuy đem quân thuỷ bộ phối hợp với các tướng đánh Cảo. Vào giai đoạn cuối thời Lê Sơ, một số đại thần có ý phản nghịch. Nhiều lần họ Mạc lấn át quyền bính khiến vua Lê Chiêu Tông phải có ý định bỏ trốn khỏi Kinh thành. Ngày 27 tháng 7 năm 1522 vua Lê Chiêu Tông bí mật bỏ kinh thành chạy lên huyện Minh Nghĩa (Sơn Tây). Trước khi đi, vua sai người vào Tây Kinh bảo ông Trịnh Tuy đem quân ra nghênh viện. Ngày 9 tháng 10 năm 1525, Mạc Đăng Dung đi kinh lý các xứ, tự làm Đô tướng thống lĩnh các doanh thuỷ bộ đánh ông Trịnh Tuy ở đầu nguồn Thanh Hoa nhằm chặt bớt cánh tay của vua. Sự nghiệp chưa thành thì ông bị bệnh mất vào cuối năm 1525. Ông Trịnh Tuy một lòng phò giúp nhà vua giữ yên thiên hạ, được người đời ca tụng song cũng bị nhiều kẻ phản nghịch thù địch.

7.4. Hậu duệ nhiều đời sau

Do là một dòng họ nhiều đời, nhiều người làm quan, lại vào đúng thời kỳ có nhiều biến động trong lịch sử như cuộc chiến Lê – Mạc, Lê Trịnh – Nguyễn v.v.. nên con cháu cụ Trịnh Khắc Phục ly tán trên một địa bàn rất rộng lớn, chia ra nhiều chi cành đã hàng vài ba trăm năm mất liên lạc. Vì vậy, tài liệu về hậu duệ của cụ còn để lại chủ yếu là chi cành thế trưởng tộc.

Chi cành này, thời Lê trung hưng cũng như dưới triều Nguyễn, có không ít người tham gia triều chính phục vụ đất nước.

Trước hết là cụ Trịnh Duy Tinh, cháu 6 đời của cụ Trịnh Khắc Phục.

Khi nhà Lê bị nhà Mạc chuyên quyền cướp ngôi vua, những công thần nhà Lê giúp vua Lê trung hưng. Ông Trịnh Duy Tinh là người có công giúp nhà Lê. Vì vậy, vào khoảng niên hiệu Quảng Hưng (niên hiệu vua Thê Tôn: 1578-1599) được phong tước Quản lĩnh Tân hưng hầu.  Vào khoảng niên hiệu Hoằng Định (niên hiệu vua Kính Tôn: 1601-1619) lại thăng tước Thiên uy vệ sỹ chỉ huy đồng Tri phù hưng hầu. Khoảng niên hiệu Long Đức vua Thần Tôn (1735-1740), được phong tước Phụ quốc Thuần tín Dương vũ uy dũng Tán trị công thần đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Điện tiền Đô hiệu điểm Tư tả hiệu điểm lục quận công.

Con trai đầu của ông là Trịnh Duy Nhất cũng  nối nghiệp ông cha hết lòng giúp chúa tiễu trừ giặc Mạc, bắt được giặc ở Vũ Ninh([8]). Vì có công, vào khoảng niên hiệu Vĩnh Tộ (1620-1628) vua Thần Tôn, được phong tước Tán trị công thần, đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân kiêm Ngô vệ Đô chỉ huy sứ Cẩm vân hầu.

Dưới triều Nguyễn, chi họ này có một người trai vốn là Nho sinh, ông Trịnh Duy Cương (hậu duệ đời thứ 14), đã đầu quân cho bộ Binh. Nhờ thông thạo và viết chữ Nho đẹp, Trịnh Duy Cương đã đựơc chọn làm “Thư lại vị nhập lưu” cho “Dinh Lãnh binh Thanh Hoá” vào năm Tự Đức thứ 12(1858), tức là vào năm Đế quốc Pháp nổ súng ở Đà Nẵng mở đầu cuộc xâm lăng nước ta, đến năm Tự Đức thứ 24, tức năm 1870 được ban hàm Cửu phẩm.

Khi phong trào Cần vương diễn ra ở Thanh Hóa, dòng họ Trịnh có nhiều người hưởng ứng và hiến dâng xương máu trong công cuộc chống Pháp  do Văn thân lãnh đạo. Lúc bấy giờ, hậu duệ đời thứ 14 của cụ Trịnh Khắc Phục là Trịnh Duy Sơ cư trú tại thôn Vân Đô, xã Đông Minh, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa ngày nay đang làm đội trưởng trong dinh Lãnh Binh Thanh Hóa. Nối gót truyền thống tổ tiên, ông cũng để lại cho dòng họ, cho quê hương một khúc bi tráng trong phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỉ XIX.

Về sự kiện này, Lịch sử đảng bộ xã Đông Minh (xuất bản năm 2004, trang 27 & 28) có đoạn:

“…ở Vân Đô, cụ Trịnh Duy Sơ làm Đội trưởng trong dinh Lãnh Binh Thanh Hóa đã cùng ông đốc Hiển làng Viên Khê (Đông Anh) tuyên truyền, vận động thanh niên trong vùng Vân Đô, Tuân Hóa, Tam Xuyên, Bắc Giáp …theo chiếu Cần Vương đánh Pháp cứu nước.”

Hưởng ứng chiếu Cần vương, ông Đội Sơ (tức Trịnh Duy Sơ) tham gia chống Pháp dưới sự chỉ huy của Trần Xuân Soạn([9]).

Tham gia phong trào Cần Vương, ông Đội Sơ đã góp một phần công sức của mình vào phong trào chung ở Thanh Hóa. Thực dân Pháp đã thẳng tay đàn áp không thương tiếc phong trào Cần Vương. Nhiều người bị bắt và bị giết. Ngày 14 tháng 8 năm Đinh Hợi (1887), ông Đội Sơ cùng nhiều nghĩa binh khác bị hành quyết tại thành Thanh Hóa. Hôm sau, đúng ngày trung thu (rằm tháng 8), chúng kéo quân về quê ông là làng Vân Đô để tàn sát. Tìm thấy ở ao đình giấu nhiều gươm giáo, mã tấu…, như con thú bị thương, chúng lồng lộn tìm bắt bất cứ ai mà chúng nhìn thấy, không kể người già hay trẻ con, nam hay nữ.

Trước khi giặc đến, người trong làng đã bỏ trốn được rất nhiều. Số chưa kịp chạy bị chúng lùng sục ráo riết. Có một số chạy vào nhà thờ họ Trịnh, trốn vào trong chánh tẩm. Giặc đuổi theo, đạp cửa xông vào. Lính nhà Nguyễn trông thấy nhà thờ uy nghi, tôn nghiêm, trên có treo bức sắc phong có dấu của vua Gia Long, chúng cúi lạy rồi tháo lui. Thế là những người trốn trong chánh tẩm thoát chết.

Mười bốn người làng bị bắt. Giặc lôi ra đình, bắt xếp thành một hàng dọc rồi dùng súng bắn theo kiểu xuyên táo.

Từ đó trở đi, vào rằm tháng 8 hàng năm, làng Vân Đô có 14 gia đình cùng cúng giỗ một ngày.

Về sự kiện này, Lịch sử Đảng bộ xã Đông Minh chép tiếp (trang 50 & 51):

“Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, tại đình làng, chính quyền thôn Vân Đô đã tổ chức một cách trọng thể lễ truy điệu 14 người bị thực dân Pháp giết hại vào ngày rằm tháng 8 năm Đinh hợi (1887) vì có liên quan đến phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ XIX… Trong không khí thiêng liêng của buổi lễ, Ban tổ chức đã …nêu cao tấm gương của những người con Vân Đô tham gia phong trào Cần Vương, góp một phần nhỏ bé cho phong trào chung.”

  1. Về một số nhân vật nữ tiêu biểu

Dòng Trịnh Khắc Phục có nhiều nhân vật nữ tiêu biểu và có công với nước, với nhà Lê, chẳng hạn:

8.1. Bà Trịnh Thị Ngọc Thương: Người mẹ đã sinh ra Lê Lợi mà con cháu của bà đã dựng nên một triều đại tồn tại lâu dài nhất trong các vương triều của Đại Việt.

8.2. Bà Lê Thị Ngọc Biền, người con dâu của họ Trịnh, là chị ruột Lê Lợi. Khi Lê Lợi còn ấu thơ, bà có công bồng bế, khi Lê Lợi đánh giặc dựng nước, bà lại có công vận chuyển, cung cấp lương thướng nên đến khi Lê Lợi lên làm vua, phong cho bà là Đệ nhất Quốc trưởng công chúa, gả cho ông Trịnh Nhữ Lượng làm vợ cả và tặng cho ông Trịnh Nhữ Lượng tước Phò mã Đô uý Huyện thượng hầu (Trịnh Nhữ Lượng tức Trịnh Sai chi tử). Bà Ngọc Biền  là mẹ của ông tổ thứ nhất  (đệ nhất thế tổ) là Trịnh Khắc Phục.

8.3. Bà Trịnh Thị Ngọc Hân (trong ĐVTS, Lê Quí Đôn ghi là Tuyên, con Hiển nghĩa vương Trịnh Trọng Phong) lấy vua Đức Tôn Kiến hoàng đế (con thứ vua Lê Thánh Tông). Bà Ngọc Hân được chọn làm Hoàng thái hậu vi từ chính cung và sinh hoàng thái tử  Minh tông Triết hoàng đế và vua Tương Dực.

8.4. Bà Trịnh Thị Ngọc Cửu (con ông Trịnh Duy Tuấn), cháu 4 đời của cụ Trịnh Khắc Phục,  chầu ở chính cung vua Trang Tông Dụ hoàng đế tức là Trinh thục Hoàng thái hậu. Bà sinh được hoàng thái tử là vua Trung tông Vũ hoàng đế.

Qua mối quan hệ thông gia nhiều đời giữa Lê và Trịnh, không thể xem nhẹ sự cưu mang của bên ngoại đối với gia đình ông Lê Khoáng (Lê Lợi sinh và trưởng ở quê mẹ) và những ảnh hưởng của sự giáo dục bên ngoại đối với anh em Lê Lợi. Ngay cả bà Lê Thị Ngọc Biền là con dâu họ Trịnh nhưng đã tham gia chống Minh cùng chồng và con trai dưới cờ nghĩa Lam Sơn…

Cùng mối quan hệ thông gia nhiều đời là mối quan hệ vua tôi. Trịnh Khắc Phục một lòng trung thành phò nhà Lê kể từ khi còn trong trứng nước đến khi phát triển cực thịnh. Nhà Lê suy yếu, con cháu Trịnh Khắc Phục đã tận tâm tận lực cùng họ Nguyễn, chúa Trịnh khôi phục, trung hưng lại nhà Lê.

  1. Tìm về nguồn cội, kết nối anh em dòng dõi Trịnh Khắc Phục

Là một dòng họ có gia phả từ lâu đời, dòng cụ Trịnh Khắc Phục, nếu tính từ cụ Khởi Tổ cho đến nay đã có khoảng 27 thế hệ, phát triển thành rất nhiều chi nhánh. Trải qua nhiều cuộc bể dâu, các chi nhánh phát tán đi khắp nơi, trên một địa bàn rất rộng lớn  trong nước và trên thế giới. Có gia đình tận bên kia trái đất lặn lội về Việt Nam để tìm cội nguồn, sau vài chuyến đi mới về được đất Tổ. Có chi họ, khi người đại diện về đến nhà thờ Tổ, nhìn lên sơ đồ phả hệ thấy ông Tổ chi của mình thì sung sướng đến rơi lệ. Lại có chi họ đang còn nửa tin nửa ngờ do sự chắp nối chưa đủ độ tin cậy. Cũng có chi họ biết cụ Tổ là Trịnh Khắc Phục song không biết chi cành của mình từ cụ nào tách ra, tách ra từ bao giờ([10]) v.v..

Đã gần nửa thế kỉ nay, với tư cách là chi trưởng, chi họ Trịnh tại thôn Vân Đô, xã Đông Minh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã chủ động chắp nối được với một vài chi nhánh và biết được một số địa phương cư trú của dòng họ cụ Trịnh Khắc Phục. Song đây chỉ là con số còn cực kì khiêm tốn.

Thế hệ các bậc Khởi Tổ bị thất lạc rất nhiều do gia phả không ghi tên hoặc do tiếng Hán, một chữ có thể có nhiều âm đọc. Và còn có thể do nhiều nguyên nhân tế nhị khác.

Cụ Trịnh Khắc Phục có 8 người con trai chia thành 8 chi như đã trình bày ở trên, phân tán trên một địa bàn rất rộng. Lần theo gia phả và sự chắp nối trong thời gian gần đây, dòng này đã thu nhận được kết quả bước đầu rất khả quan, nhưng vẫn tồn nghi và thất lạc nhiều.

9.1. Chi thứ nhất: Thờ cụ Trịnh Bá Nhai.

Do vụ oan án năm 1451 và có thể còn những nguyên nhân khác nên trong gia phả chỉ ghi đến đời cụ Nhai. Qua bài văn bia của trạng Lương Thế Vinh (1441-1496) viết về cụ Trịnh Duy Hiếu (con cụ Nhai), được biết cháu 3 đời của cụ Nhai có 5 người con trai là Thiện, Bạt, Lương, Lý, Tuy. Cụ Trịnh Tuy là danh tướng những năm đầu thời Lê-Mạc.

Hiện có một tiểu chi tại thôn Đông Thuận, xã Bình Trung, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi mà Tổ Chi là Trịnh Văn Lang, hậu duệ của Cụ Trịnh Khắc Phục di cư vào đây từ đã lâu. Chúng tôi ngờ rằng đây có thể chính là con cháu đời sau của cụ Lương (con cụ Trịnh Duy Hiếu), do chữ “lương” có thể bị đọc trại thành “lang”.

9.2. Chi thứ 2: Thờ cụ Trịnh Khắc Phục và người con thứ 2 của cụ là Trịnh Trọng Ngạn. Cụ Ngạn có 3 người con trai là Trịnh Duy Thận (Thuân/Thoan/ Thuyên), Trịnh Duy Đại và Trịnh Duy Sản.

9.2.1. Hậu duệ của cụ Trịnh Duy Thận:

Quê gốc của cụ Phục tại Thủy Chú, xã Xuân Thắng, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Đến đời thứ 7, người trai út ở lại nơi đây trông coi lăng tẩm của họ.

Người trai trưởng cho con cháu lưu lại quê vợ là thôn Vân Đô, xã Đông Minh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa sinh cơ lập nghiệp, lập đền thờ Tổ ở đây. Đời thứ 10, bốn con trai của người trai út Trịnh Duy Tường lưu lại quê ngoại là xã Thạch Tổ, tổng Kỷ Cầu, huyện Thanh Liêm, phủ Lý Nhân, tỉnh Nam Định (nay là thôn Thạch Tổ, xã Thanh Hà, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam). Nơi đây, nhà thờ cụ Trịnh Khắc Phục vẫn còn giữ được nguyên vẹn như xưa và gần như là phiên bản của nhà thờ Tổ tại thôn Vân Đô, xã Đông Minh. Bà con họ mạc nơi này cũng vẫn còn lưu lại được những mẫu chuyện về quan hệ thân tộc cảm động đối với  thôn Vân Đô, đối với con cháu cụ Trịnh Duy Liêu, cụ Trịnh Duy Liệu ở Trung Quốc. Từ trước 1930, anh em trong họ vẫn thường xuyên liên lạc, đi lại với chi trưởng những ngày nông vụ, giỗ chạp, tết nhất… Do bị mất liên lạc khoảng 70 năm, sau năm 2000, chi trưởng đã chắp nối được và cử đại diện đến thắp hương, nhận lại anh em họ hàng.

Ngoài ra, còn có hai tiểu tiểu chi hiện đang sinh sống tại xã Đông Hoàng Đông Sơn, xã Thiệu Chính, huyện Thiệu Hóa, xã Thọ Tân, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

9.2.2 Hậu duệ của cụ Trịnh Duy Đại.

Trong gia phả chỉ chép đến đời con cụ Đại là Trịnh Duy Tuấn nhưng không để lại dòng địa chỉ nào. Cụ Đại là quan to trong triều, con cháu có thể sống quanh vùng Hà Nội và các tỉnh lân cận. Cụ bị vua giết oan do nghe lời vu khống nên có thể vì thế mà thất lạc. Chi trưởng dòng Trịnh Khắc Phục có lần theo chi tiết sau ghi trong sử sách để tìm cách chắp nối nhưng chưa thành công:

Ông Tuấn có người con gái là bà Trịnh Thị Ngọc Cửu chầu ở chính cung vua Trang Tông Dụ hoàng đế tức là Trinh thục Hoàng thái hậu. Sinh được hoàng thái tử là vua Trung tôn Vũ hoàng đế.

9.2.3. Hậu duệ của cụ Trịnh Duy Sản.

Do nhiều nguyên nhân đã nêu ở phần trên nên trong gia phả chỉ chép đến cụ Trịnh Duy Sản rồi bỏ trống!

Năm 2009, từ những manh mối mong manh, dòng họ đã cử người đến thôn Xá Lê (nay là làng Vinh Quang, Vinh Tiến, xã Xuân Minh, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa) để tìm hiểu. Gặp được cụ già trong họ 90 tuổi, còn khá minh mẫn, trước kia làm thầy cúng nên thông thạo tiếng Hán. Cụ cho biết:  họ Trịnh ở đây thờ cụ Trịnh Duy Tinh, hậu duệ cụ Trịnh Khắc Phục. Tổ khảo của Trịnh Duy Tinh là Trịnh Duy Sản. Cụ Sản làm quan tới chức Thái úy triều Hậu Lê, lấy công chúa, con vua Lê Trang Tông([11]), sinh được 2 người con gái là Liễu Hoa công chúa và Bạch Hoa công chúa. Ba người con trai, trưởng là Trịnh Duy Nhật (làm Thượng thư tỉnh Hà Nam), người thứ 2 (không nhớ tên) là quan án sát tỉnh Hà Đông, trai út là Trịnh Duy Tinh, lấy vợ là Trịnh Ngọc Nữ, con vị quan người Công Thôn, Yên Thọ (tức phố Đầm, huyện Thọ Xuân ngày nay). Ông Trịnh Duy Tinh đem gia đình từ vùng Bắc Bộ (không biết tỉnh nào) về Thọ Xuân sinh cơ lập nghiệp từ rất lâu đời, lập nên dòng họ Trịnh, một dòng lớn nhất trong những dòng Trịnh ở xã Xuân Minh, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa.

Cụ già còn đưa bản gia phả Hán văn ra đọc, giảng giải rất chi tiết. Năm 2011, cụ qua đời, gia phả Hán văn đã thất truyền.

9.3. Chi thứ 3: Thờ cụ Trịnh Trọng Phong. Theo gia phả của họ Trịnh tại Vân Đô, cụ Phong sinh 1 người con trai là Trịnh Dực. Ông Trịnh Dực sinh 5 người con gái. Nếu đúng như vậy, chi này đã thất tự khoảng nửa thiên niên kỉ. Nhưng nếu không phải như vậy thì rất mong có sự hồi âm trên Trinhtoc.com.

9.4. Chi thứ 4: Thờ cụ Trịnh Thúc Thông. Trong gia phả chỉ chép 4 đời là Trịnh Thúc Thông, Trịnh Bá Bồng, Trịnh Phúc Hải và Trịnh Bá Khải. Cả 4 thế hệ đều làm quan thời Lê Trung Hưng, lập được nhiều công trạng. Ông Trịnh Bá Bồng được vua Anh Tông Tuấn hoàng đế (1558-1571) ban cấp lộc điền tại xã Khổng Tào (nay là xã Thọ Bình, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa). Ông lấy vợ người nơi này và đến đời con là Trịnh Phúc Hải lưu lại quê mẹ sinh cơ lập nghiệp. Hiện nay, tại xã Thọ Bình có không nhiều gia đình họ Trịnh. Có dòng từ nơi khác chuyển đến, có dòng ở đây đã lâu nhưng không ai biết rõ gốc tích, ngọn ngành.

Tại thôn Đoàn Tùng (tên cũ: làng Thông), xã Đoàn Tùng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương có một chi họ Trịnh Khắc, chỉ biết cụ Tổ chi là Trịnh Thúc Thông, con cụ Trịnh Khắc Phục vì gia phả mất đã lâu. Sau nhiều năm điều tra, tìm hiểu, đến năm 2000 thì liên lạc được với chi cụ Ngạn qua thư từ, điện thoại… Năm 2001, nhân kỷ niệm 550 năm ngày mất của Cụ Trịnh Khắc Phục, chi họ đã cử một đoàn đại diện các tiểu chi khoảng mươi người về thôn Vân Đô nhận họ và thắp hương bàn thờ Tổ. Trước khi đi vẫn nửa tin, nửa ngờ. Khi vào nhà thờ thắp hương, nhìn vào sơ đồ phả hệ thấy có tên cụ Trịnh Thúc Thông là con cụ Trịnh Khắc Phục, có người rơi nước mắt. Sự nửa tin, nửa ngờ lập tức tan biến. Từ đó đến nay, hai chi vẫn thường xuyên liên hệ với nhau.

9.5. Chi thứ 5: Thờ cụ Trịnh Thúc Tùng. Con trai cụ là Trịnh Bá Phong, làm nhà ở quê ngoại là thôn Nhân Mỹ, xã Đội Trượng, tổng Cổ Định, huyện Nông Cống, phủ Tĩnh Gia (nay là thôn Bình Doãn, xã Tân Thọ, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa), con cháu đông đúc, thịnh vượng.

Đây là chi có mối quan hệ rất chặt chẽ với chi trưởng ở thôn Vân Đô, xã Đông Minh, chưa bao giờ mất liên lạc với nhau; anh em đang bàn việc xây dựng nhà thờ chi họ.

Năm 2012, theo gợi ý từ một chi tiết trong Gia phả 3 – Gia phả Vũ Quang, chúng tôi đi tìm dấu vết phần mộ cụ Trịnh Khắc Phục được GP3 chép là an táng ở  Nông Cống. Không tìm thấy mộ nhưng chúng tôi đã tìm thấy tấm bia đá cung tiến có liên quan đến lịch sử dòng họ này. Bia đã mòn, nhiều chữ bị mất, bị mờ nhưng chúng tôi ([12]) đã phối hợp dịch xong, sẽ công bố trong dịp gần nhất

9.6. Chi thứ 6: Thờ cụ Trịnh Đại Hưng. Hai người con trai của cụ là Trịnh Duy Liêu và Trịnh Duy Liệu được cử sang cầu nhà Minh giúp nhà Lê diệt Mạc. Công việc không thành, hai ông ở lại châu Quy Thuận (nay thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc) và Hữu Lý (chắc cũng thuộc Quảng Tây hay Quảng Đông – Trung Quốc). Trước kia, mỗi khi có sứ thần của ta qua Trung Quốc, các cụ thường mời đón hỏi thăm tình hình họ đương để truyền về sau. Có lẽ đã mất liên lạc vài ba trăm năm nay.

9.7. Chi thứ 7: Thờ cụ Trịnh Như Sơn. Cụ Trịnh Như Sơn làm tướng giúp nhà Lê, con cháu ở lại quê mẹ là xã Hoa Duệ, huyện La Sơn, tỉnh Nghệ An (nay là xã Đức Hương, huyện Vũ Quang, tỉnh Hà Tĩnh). Chi họ này, trong gia phả đều ghi họ Trịnh nhưng tất cả con cháu hiện nay đều khai sinh họ Lê (họ vua Lê mà cụ Trịnh Khắc Phục được ân ban).

Nửa cuối thế kỉ XIX vẫn còn liên lạc được với họ Trịnh ở Thanh Hóa. Đến thế kỉ XX, gần như không còn mối liên hệ nào.

Khoảng năm 1971, 1972, chi họ ở Vân Đô đã nhờ chàng rể của họ người huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An tìm giúp nhưng không hiểu vì sao không đạt được kết quả.

Năm 1973, 1974, người trong chi họ trực tiếp vào huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh để thăm dò song bấy giờ, hỏi thăm địa danh cũ, ở đây không ai biết được nên đành thất vọng ra về.

Thập niên đầu của thế kỉ XXI, qua kiên trì tìm kiếm, hậu duệ là Lê (Trịnh) Hồng Phong – công tác tại trường Đại học Đà Lạt, đã tìm cách chắp nối được với chi trưởng ở Vân Đô, Đông Minh, Đông Sơn, Thanh Hóa.([13])

Hành trình tiếp theo, đầu xuân 2013, đại diện chi trưởng đã vào kết nối anh em với chi thứ bảy ở Vũ Quang([14]).

Ngày 26/7/ Quý tỵ – 2013, đúng ngày Giỗ Tổ, đoàn con cháu đại diện dòng tộc ở Vũ Quang đã về Vân Đô thắp nhang, chính thức nối lại cội nguồn.

9.8. Chi thứ 8: Thờ ông Trịnh Quý Nham (có bản gia phả chép là Tàng). Trong gia phả chỉ ghi một đoạn sau : “Người thứ tám: Trịnh Quý Nham, giúp vua Lê. Đời vua Thánh Tông thuần hoàng đế  hết lòng giúp nước, được phong tước Phụ quốc Dực vận công thần, Nam quân Đô đốc chưởng phủ kiêm Tứ vệ quân Thái bảo Quang hưng hầu. Sinh con trai là Trịnh Bá Côn, con cháu đời đời nảy nở. Ngoài ra không có thông tin gì.

 

 

  1. 10. THAY LỜI KẾT

10.1. Trên đây là sự khảo tả rất khái quát về cuộc đời và sự nghịệp của Khai quốc công thần, Thượng đẳng thần Trịnh Khắc Phục – quốc tính Lê Khắc Phục. Có thể khẳng định Trịnh Khắc Phục là một tướng lĩnh cao cấp tài giỏi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã lập công lớn, được phong thưởng cao. Đó là một đại thần đầu triều, trải qua 3 triều vua: Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông. Ông đã cống hiến cho đất nước Đại Việt trên nhiều lĩnh vực, từ quân sự, chính trị đến ngoại giao, giáo dục. Trịnh Khắc Phục với 8 người con trai, từ triều Lê Thánh Tông trở đi, con cháu của Ông lại tiếp tục cống hiến cho các triều đại, cho quốc gia dân tộc, đời đời truyền mãi đến nay.

10.2. Như hàng loạt tướng soái, công thần, đại công thần khác, trong sự nghiệp Bình Ngô Khai Quốc, Ông có nhiều công lao, cống hiến nhưng không tránh khỏi sơ sót, thậm chí bị kết án oan, bị coi là có tội (nếu xét từ quyền lợi và quan điểm cục bộ nào đó), và cuối cùng đã có một kết thúc bi kịch (1451), dù 2 năm sau đã được minh oan (1453). Tuy các nguồn Gia phả không chép sự kiện bi thảm này nhưng các bộ Quốc sử đều ghi chép tương đối đủ, đánh giá khá công bằng, khách quan về sự nghiệp của Trịnh Khắc Phục. Đánh giá công lao của các nhân vật lịch sử, UBND tỉnh Thanh Hóa và tỉnh Hà Tĩnh đã lần lượt công nhận nơi thờ phụng Trịnh Khắc Phục ở Vân Đô (Đông Sơn) và Đức Hương (Vũ Quang) là Di tích lịch sử-văn hóa.

10.3. Nghiên cứu nhân vật lịch sử Trịnh Khắc Phục có thể mang lại những đóng góp cho việc nghiên cứu vai trò, vị trí của dòng tộc Trịnh Khắc Phục trong lịch sử Đại Việt; cho việc nghiên cứu Đại tộc Trịnh Việt Nam nói chung; có thể góp phần vào việc nghiên cứu quan hệ các dòng họ trong lịch sử, nghiên cứu lịch sử và văn hóa Việt Nam… Trong sự nghiên cứu ấy, cùng với vai trò của sử liệu chính thống, rất cần bổ sung thêm các nguồn sử liệu khác như truyền thuyết, gia phả, sắc phong, câu đối, di tích.v.v…

10.4. Vẫn còn nhiều vấn đề quan trọng cần tiếp tục nghiên cứu:

* Vai trò của các nhân vật lịch sử là các quý bà như:  Bà Trịnh Thị Ngọc Thương – thân mẫu của  Thái Tổ Lê Lợi; Lê Thị Ngọc Biền – chị gái của Lê Thái Tổ, người mẹ của anh hùng Trịnh Khắc Phục; Trịnh Thị Ngọc Hân (Tuyên) – con ông Trịnh Trọng Phong, lấy con vua Lê Thánh Tông, sinh ra Minh Tông Triết hoàng đế và vua Lê Tương Dực; Trịnh Thị Ngọc Cửu (Trinh thục Hoàng thái hậu), cháu 4 đời của cụ Trịnh Khắc Phục,   sinh được vua Trung tông Vũ hoàng đế; v.v…

* Tình cảm giữa Tư không Lưu Nhân Chú và Tư khấu Trịnh Khắc Phục, mối quan hệ 2 gia đình (anh / em cùng mẹ khác cha ?), mối  liên hệ giữa cái chết của hai ông ? mối quan hệ hai dòng họ Trịnh-Lưu về sau ? v.v…

* Mối quan hệ Lê – Trịnh khởi nguồn từ trước năm 1400, không phải đến thời Lê – Mạc – Trịnh – Nguyễn mấy trăm năm sau mới thiết lập. Quan hệ Lê -Trịnh không phải bắt đầu từ chế độ vua Lê-chúa Trịnh mà từ Khởi nghĩa Lam Sơn. Họ Trịnh, dù dòng nào, cơ bản vẫn là một dòng họ tướng quân, có gì tương đồng và khác biệt với chế độ Shogun ở Nhật Bản?

* Con cháu của Trịnh Khắc Phục có rất nhiều người có cống hiến cũng cần được nghiên cứu một cách đúng mức.

Nhớ công đức tổ tiên, với tình cảm huyết thống và ý thức tự hào về Thủy Tổ và về lịch sử dòng họ, con cháu đã và đang tìm lại cội nguồn, kết nối anh em, bảo vệ-trùng tu di tích, hiểu rõ tấm gương cuộc đời và sự nghiệp hào hùng của Cụ Trịnh Khắc Phục.

Chúng tôi chân thành cảm ơn các sử gia, các bậc trưởng thượng, các chú bác, anh em đồng tộc đã và sẽ tạo điều kiện cho chúng tôi có nguồn tư liệu để tạo dựng chân dung người anh hừng cứu quốc Trịnh Khắc Phục và bức tranh chung về dòng tộc chúng ta. Những sơ suất không tránh khỏi được anh em chỉ bảo sẽ giúp chúng tôi trên bước đường học hỏi trong thời gian tới.

Xin trân trọng cảm ơn Hội đồng họ Trịnh Việt Nam và Trinhtoc.com đã và sẽ giúp chúng tôi công bố thông tin, tư liệu về dòng tộc Trịnh Khắc Phục.

Đông Sơn, tháng 9 năm 2013

TRỊNH DUY TUÂN – LÊ HỒNG PHONG

([1])  Trong sử  sách ghi là Thuân, Thoan, Thuyên.

([2]) Lịch triều hiến chương loại chí, tập I, Nxb Sử học, 1960, trang 269.

([3]) Đại Việt thông sử, Sách đã dẫn, trang 238.

([4])  ĐVTS tập 3, trang 233.

([5]) Nay là vùng Vạn Yên, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương.

([6]) Thân Bao Tư, bề tôi nước Sở đời Xuân Thu; khi nước Sở sắp mất, ông sang Tần xin cầu cứu, không được,  khóc luôn mấy ngày ở sân nhà Tần.

([7]) Người đời Chiến Quốc, trước làm tôi Trí  Bá, sau Trí Bá bị Triệu Vô Tuất giết, ông tìm hết cách báo thù cho Trí Bá.

([8]) Nay là huyện Võ Giàng tỉnh Bắc Ninh và huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang.

([9]) Trần Xuân Soạn (18491923), là tướng nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam. Đầu tháng 4 năm 1885, thời vua Hàm Nghi, ông cùng tướng Tôn Thất Thuyết đánh Pháp đóng ở đồn Mang Cá trong trận Kinh thành Huế. Sau khi thất bại, ông lãnh nhiệm vụ tổ chức phong trào Cần Vương kháng PhápThanh Hóa.

([10]) Ví dụ như họ Trịnh ở làng Liên Phô, xã Thọ Nguyên, làng Thạc xã Xuân Lai, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa v.v..

([11]) Lê Trang Tông là hoàng tử Lê Ninh đăng quang tại nước Lào năm 1533, khi còn ít tuổi. Trịnh Duy Sản mất năm 1516. Có thể ông cụ nhớ sai tên vị vua. Cũng như sau đó có “Thượng thư  tỉnh Hà Nam” thì cũng không chính xác.

([12]) Trịnh Duy Tuân  (THPT Đông Sơn 1 – Thanh Hóa), Lê Hồng Phong và Nguyễn Huy Khuyến (Trường Đại học Đà Lạt).

([13]) Xem: Tìm lại cội nguồn của một chi họ Lê gốc Trịnh, Trinhtoc.com, 2012.

([14]) Trịnh Duy Tuân đã đưa tin trên Trinhtoc.com, 2013

([1]) Theo “Thần tích thần sắc” làng Thạch Tổ của Viện Thông tin Khoa học xã hội- Hà Nội 1995. Kí hiệu sách TTTS 5759.

([2]) Dẫn theo Trịnh Bỉnh Di trong bài “Dòng họ Trịnh ở Thủy Chú- Vân Đô, họ ngoại vua Lê Thái Tổ”, đăng trên trang  Website  Trinhtoc.com của  Hội đồng họ Trịnh phía Nam.  

([1]) Tức Trịnh Khắc Phục, vì ông được vua Lê ban quốc tính- họ vua.

([2])Lê Quý Đôn, Đại Việt thông sử,  tập III, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, năm 1978, trang 117,118.

([3]) Lê Quý Đôn (1726-1784).

([4]) Lê Qúy Đôn, Sđd, trang 135, 136

([5]) Gia phả dòng Trịnh Khắc Phục ghi Trịnh Duy Thận, tài liệu lịch sử ghi là Thuân (Thuyên, Thoan). Mẹ vua Lê Tương Dực trong gia phả ghi là Trịnh Thị Ngọc Hân, còn trong các tài liệu lịch sử ghi là Trịnh Thị Ngọc Tuyên v.v..

([6]) Đại Việt thông sử, Sđd, trang 117, 118.

(3) Đại Việt sử kí toàn thư tập II, Sđd, trang 374.

([8]) Đại Việt thông sử, sách đã dẫn, trang 118.

 ([9])  Vì vậy trong các tài liệu lịch sử, các tác giả còn ghi là Lê Khắc Phục.

 

 (1)  ĐVSKTT, tập II, Sđd, trang 384.

([11]) Về sự kiện này, câu đối trong đền thờ Cụ Trịnh Khắc Phục còn ghi rõ : Trảm Liễu phù Lê phong thanh chấn Bắc địch – Bình  Ngô khai quốc sự tích ký Nam bang, nghĩa là : Giúp nhà Lê chém Liễu Thăng, tin mới nghe qua đã làm chấn động quân giặc phương Bắc – Đánh giặc Ngô mở nước, sự tích còn ghi trong sử nước Nam.

([12]) Do vốn tư liệu ít ỏi nên chúng tôi chưa thấy sự kiện này được các sử gia ghi lại. Nhưng cũng có thể suy đoán là có thật trong lịch sử, vì ĐVSKTT cũng từng chép việc Trịnh Khắc Phục dẫn đoàn đi hội khám biên giới phía Bắc. Lập cột đồng ở đây là cắm cột mốc biên giới.

([13]) Từ dùng của Nguyễn Lương Bích, Nguyễn Trãi đánh giặc cứu nước, NXB Quân đội nhân dân, 1974, trang 590.

(3) Từ dùng trong ĐVSKTT tập II, Sđd , trang 606.

([15]) ĐVSKTT tập II , Sđd , trang 563.

([16]) Trong đền thờ cụ Trịnh Khắc Phục có bức đại tự gồm 4 chữ Hán “ Dữ quốc đồng hưu” (nghĩa là quan hệ tốt đẹp với nước đồng minh) có lẽ để ghi công, ca ngợi công lao của Cụ trong quan hệ bang giao với nước ngoài.

([16]) ĐVSKTT tập II, Sđd, trang 560.

([18]) ĐVSKTT tập II, Sđd, trang  560, 566, 588.

([19]) ĐVSKTT tập II, Sđd, trang 580.

([20]) ĐVSKTT tập II, Sđd, trang 569.

([21]) ĐVSKTT tập II, Sđd, trang 571.

([22])  Sử chép dư một từ “Phán đại tông chính tự”, thậm chí, có tài liệu còn chép thành Phán đại tông chính phủ!

([23])  ĐVSKTT tập II, Sđd, trang 605, 606 và 607.

([24]) Huân là xưng hiệu vinh dự phong cấp theo công tích.

([25]) Tước vị là đẳng cấp ban cho quý tộc thời quân chủ. Gồm có : vương (chỉ ban cho hoàng tộc), công, hầu, bá, tử, nam.

([26]) Nam Đạo gồm Hà Nam, Hưng Yên, Nam Định và Thái Bình ngày nay.

([1]) Cuốn này hiện đang lưu tại chi Trịnh Như Sơn – con trai thứ 7 của Trịnh Khắc Phục tại Hoa Duệ (Nghệ An) nay là Đức Hương, Vũ Quang, Hà Tĩnh. Văn bản do Nguyễn Thanh Hòai (Trường Đại học Đà Lạt) sơ dịch, Tiến sĩ Lê Hồng Phong hiệu đính và chú thích.

([1]) Trịnh Bỉnh Di, Dòng họ Trịnh ở Thủy Chú -Vân Đô, họ ngoại Lê Thái Tổ, Trang Web: Hội đồng họ Trịnh phía Nam.

([2]) Người dịch cuốn này là ông ông Lê Đình Trác (người làng Mơ, xã Quỳnh Lương, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An), vốn là ông Đồ dạy chữ Nho từ trước 1945, sau này dạy học tại trường phổ thông cấp 3 Quỳnh Lưu. Ông là con rể của dòng họ Trịnh tại Vân Đô, Đông Minh, Đông Sơn, Thanh Hóa.

([3]) Cuốn này hiện đang lưu giữ tại Viện Hán Nôm, mang kí hiệu A.3128, có đóng dấu từ thời Pháp thuộc, đã được dịch sang tiếng Việt. Người dịch là ông Nguyễn Hữu Mùi, cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm; người hiệu đính là ông Nguyễn Tá Nhí, cán bộ Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Văn bản dịch được ông Vũ Xuân Hiển – Trưởng phòng Hành chính Tổng hợp thừa lệnh Viện trưởng kí, đóng dấu xác nhận.

Share.

About Author

1 phản hồi

Leave A Reply