CHÚA TRỊNH VỚI ĐƯỜNG LỐI QUỐC PHÒNG, XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI ĐỂ BẢO VỆ TOÀN VẸN LÃNH THỔ VÀ VƯƠNG QUYỀN

0

CHÚA TRỊNH VỚI ĐƯỜNG LỐI QUỐC PHÒNG, XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI ĐỂ BẢO VỆ TOÀN VẸN LÃNH THỔ VÀ VƯƠNG QUYỀN.

Chúa Trịnh được lịch sử ghi nhận với việc khôi phục lại vương triều Lê mà sử sách gọi là thời Lê Trung Hưng. Các Chúa Trịnh đã nối tiếp nhau nắm giữ binh quyền, điều hành đất nước suốt 249 năm với 11 đời chúa phò giúp 16 đời vua Lê.

Từ năm 1592, khi họ Trịnh đánh đuổi được nhà Mạc, vương triều Lê được thiết lập lại ở kinh thành Thăng Long. Mọi thể chế của quốc gia được xây dựng trong đó có đường lối quốc phòng, xây dựng lực lượng quân sự, nhằm bảo vệ vững chắc toàn vẹn lãnh thổ Đại Việt và vương quyền. Các Chúa Trịnh xưa và nay được các nhà sử học bình luận khá nhiều, khen không ít, chê cũng khá nhiều, nhưng nhìn chung ít người chú ý đến bối cảnh lịch sử, hoàn cảnh khôi phục lại triều Lê và giữ được ổn định đất nước nhất là ở giai đoạn thế kỷ 17-18. Bình tĩnh, khách quan mà xem xét ta có thể thấy để giữ được chính quyền Lê – Trịnh, bảo vệ được chủ quyền, lãnh thổ trước sức ép nhiều phía của nhiều thế lực từ ngoại bang đến trong nước thật không dễ dàng gì. Trong điều kiện ấy, các chúa Trịnh đã nhất quán thực thi các chủ trương sau đây:

MỘT LÀ, CHÚ TRỌNG XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG QUÂN SỰ MẠNH.

Buổi đầu thời Lê Trung hưng khi phò giúp vua Lê đánh đuổi nhà Mạc, quân số đông nhất có khoảng 56000 người. Biên chế, tổ chức vẫn theo lệ cũ nhà Lê. Xây dựng quân đội coi trọng cả quân bộ lẫn quân thủy. Tổ chức quân đội có ngũ phủ đô đốc lập ngũ khuôn quân, tức quân dinh 5 khuông gồm: Trung khuông, Tả khuông, Hữu khuông, Tiền khuông và Hậu khuông. Quân chia thành: Dinh, Cơ, Đội và Thuyền.
Từ năm 1600, chúa Trịnh Tùng chia quân đội làm hai loại: quân thường trực và ngoại binh.
Quân thường trực: chuyên canh giữ kinh thành và phủ chúa, gọi là quân túc vệ. Thành phần quân thường trực chỉ gồm những binh sĩ người Thanh Hóa (đồng hương với vua Lê và chúa Trịnh) và Nghệ An (bao gồm Nghệ An – Hà Tĩnh ngày nay):
Những người lính Thanh Hóa, Nghệ An từng tham gia chiến tranh với nhà Mạc được lưu lại kinh thành Thăng Long.

bau-vat-hoang-gia-viet-nam-o-paris

(Sỹ quan quân đội thời Lê – Trịnh)

Những binh sĩ mới tuyển thuộc 3 phủ ở Thanh Hóa (Thiệu Thiên, Hà Trung, Tĩnh Gia) và 12 huyện ở Nghệ An (6 huyện ở phủ Đức Quang và 6 huyện ở 3 phủ Diễn Châu, Anh Đô, Hà Hoa).

Ngoài nhiệm vụ bảo vệ cung vua, phủ chúa, lực lượng này còn làm nòng cốt trong cuộc thực chiến. Do 3 phủ ở Thanh Hóa là căn cứ vững chắc từ thời Nam Bắc triều và cung cấp chủ yếu quân túc vệ nên lực lượng này còn được gọi là lính Tam phủ.
Ngoại binh: hay còn gọi là Nhất binh, được tuyển từ 2 phủ Trường Yên và Thiên Quan cùng 4 nội trấn (Hải Dương, Sơn Nam, Sơn Tây, Kinh Bắc) có nhiệm vụ phòng thủ ở các địa phương. Hầu hết lực lượng này lấy những người tình nguyện, còn lại chỉ có tên trong binh ngạch, khi có việc mới gọi ra, thời bình ở nhà làm ruộng.
Quân đội lúc này gồm 2 loại: quân Triều đình và quân Địa phương. Quân Triều đình là binh lính tại ngũ chuyên nghiệp, quân Địa phương là loại quân của các Phủ, Trấn, bán chuyên nghiệp, vừa là lính vừa là dân được thay phiên nhau luyện tập và canh phòng.
Về quân thủy, các Chúa Trịnh cũng đặc biệt chú trọng xây dựng, chia thành “các đội thủy binh thị hậu” và “các đội thuyền ngoại binh”. Các đội thuyền ngoại binh là lực lượng chiến đấu trực tiếp với quân thủy của đối phương. Số lượng thuyền chiến của Chúa Trịnh có tới 600 chiếc. Từ số “1” Dinh lớn có 800 người như dinh Trung khuông, nhỏ có 160 người như Dinh tả Hòa, Tiền Hòa. Cơ lớn có 500 người như cơ Trung Hùng ở binh Thị Hậu. Cơ nhỏ thì có 200 người như cơ Thiên Hùng. Đội lớn có 275 người. Một lượng thuyền chiến lại chia thành các cơ, đội và thuyền. Về cơ có cơ thủy, cơ dực. Về đội có đội thủy, đội binh và binh nội thủy. Thuyền là đơn vị nhỏ nhất trong quân thủy nhà Trịnh. Thuyền lớn có 86 người, thuyền nhỏ có 20 người. Dưới thời chúa Trịnh Căn (1692-1709) kêu gọi các lính tứ trấn về lập thành các đội, cơ, vệ. Mỗi đội có 20 người, mỗi cơ có 20 đội, mỗi vệ có 5 – 10 cơ. Tổng quân thủy, bộ lúc đó có khoảng 12 vạn người (rất lớn so với dân số bấy giờ). Triều đình cũng cho phép các quan tùy sức chiêu mộ trai tráng làm lính. Ai mộ được nhiều lính thì cấp cho nhiều ruộng đất để lấy lợi tức nuôi dưỡng binh lính, mua sắm vũ khí. Tuy vậy, chế độ tuyển mộ này đến năm 1709 thì bãi bỏ. Chúa Trịnh lại theo lệ cũ, tuyển đinh tráng xung vào binh ngạch cứ 5 suất lấy 1, chia thành ưu binh và nhất binh. Ưu binh là lính mộ ở 3 phủ thuộc Thanh Hóa và 4 phủ thuộc Nghệ An. Nhất binh là lính mộ ở 2 phủ Trường Yên và Thiên Quan cùng 4 trấn: Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Dương và Sơn Tây. Lính Thanh – Nghệ tức là lính chọn từ đất bản bộ của nhà Lê – Trịnh là hạng tín cẩn đóng ở kinh thành và phủ chúa, được ưu đãi và có nhiều đặc ân.

Năm 1722 chúa Trịnh Cương đặt thêm 6 quân doanh: Trung Dục, Trung Uy, Trung Thắng, Trung Khuông, Trung Nhuệ và Trung Tiệp mỗi doanh có 800 lính. Quân chuyên nghiệp thường trực chia làm 3 hạng: Nội binh (quân túc vệ hay thân quân), Ngoại binh là lính cơ động chiến đấu (du quân) khi có giặc thì đi đánh dẹp, bình yên thì đóng giữ kinh thành. Hai loại trên có cả quân bộ và quân thủy. Loại thứ ba là quân đồn trú, trấn giữ các đồn trại trên các địa bàn trọng yếu. Thế kỷ 18 chính quyền nhà Trịnh chủ trương chấn hưng hương đoàn, lập ra hương binh đoàn kết ở các trấn, phủ. Mỗi xã cứ 3 – 5 đinh lấy 1, vũ khí tự trang bị và lập các điếm canh. Theo địa giới từ 4 – 5 hoặc 6,7 xã lập thành một đoàn. Chọn người có chức dịch ở trấn hoặc nha lại ở huyện làm Trưởng đoàn để đốc xuất các quan xã trông nom canh giữ. Nếu không đủ sức canh giữ thì phải báo lên trên hoặc các đoàn lân cận ứng cứu. Từ năm 1742 hương binh được tổ chức quy củ hơn, mỗi phủ trong 4 trấn đều được đặt 1 vệ quân, chọn 1 quan văn và 1 quan võ làm Tuần phủ và Tuần thứ để quản lãnh vệ binh. Năm 1749 đặt thêm vệ binh ở 2 trấn Sơn Nam và Kinh Bắc, đồng thời tuyển dân binh hai huyện Nam Xang và Bình Lục đặt ở cơ Nhất Hùng. Lực lượng quân sự lúc đó đủ mạnh để chống lại các cuộc xâm lấn của ngoại bang.
Quân đội Lê-Trịnh gồm có 4 binh chủng: bộ binh, thủy binh, kỵ binh và pháo binh. Sử sách xác nhận tổng số chính quyền Lê-Trịnh có 413 doanh, cơ, đội, thuyền.

Ngoài bộ binh là lực lượng truyền thống, thủy binh được chú trọng phát triển. Đàng Ngoài có khoảng 600 chiến thuyền. Theo giáo sĩ Alexandre de Rhodes có mặt ở Đàng Ngoài:

Chúa Trịnh có nhiều đội thuyền chiến với lực lượng đông đảo; chiến thuyền dài có 24 – 40 tay chèo mỗi bên; các chiến thuyền đều có đủ vũ khí và súng ống cần cho việc giao chiến. Tàu thuyền nào cũng có 1 khẩu súng nhỡ ở mũi thuyền và 2 khẩu súng ở đuôi thuyền. Về binh lính, họ rất thành thạo sử dụng mọi vũ khí, với súng tay và súng hỏa mai, họ bắn rất thiện nghệ.

12

Trong Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ tục biên ghi nhận thời Nam Bắc triều, quân Trịnh theo phò nhà Lê có lực lượng kỵ binh khá mạnh. Trịnh Tùng từng sử dụng 400 quân thiết kỵ làm trợ chiến để đẩy lùi cuộc xâm lấn của quân Bắc triều. Năm 1592 ông huy động tới 5000 kỵ binh nặng, trang bị giáp sắt cho cả ngựa để vây hãm Đông Kinh của nhà Mạc.

William Dampier, một nhà du hành từng đến Đàng Ngoài năm 1688 có ghi nhận là quân đội chúa Trịnh có chừng 70.000-80.000 quân thường trực, trong số đó hầu hết là bộ binh trang bị súng tay, ở kinh thành chúa có thường trực voi chiến 200 thớt, ngựa chiến 300 con, nuôi béo khỏe. Ngựa trung bình cao 140 cm đến vai, kích cỡ tương đương các nòi ngựa để cưỡi hiện đại.

Một ghi chép của người phương Tây về lực lượng quân sự dưới thời Thanh Đô vương Trịnh Tráng cho rằng vào năm 1640 nhà chúa có dưới trướng hơn ba mươi vạn bộ binh, hai ngàn thớt voi trận và một trăm lẻ hai ngàn quân kỵ(!).[7] Con số này đáng nghi vấn. Tuy nhiên ghi chép này cũng cho người đời sau thấy được ấn tượng của những người ngoại quốc về 1 quân đội Đại Việt hùng cường toàn diện, từ thủy binh, bộ binh đến kỵ, tượng binh.

Trưng tập
Phép tuyển lính về cơ bản giữ theo chế độ thời Lê Thánh Tông. Tuy nhiên, từ năm 1660 thời Lê Thần Tông, do không tuyển được nhiều lính tốt, phát sinh tệ nạn gian dối nên chính quyền cho thay đổi cách thức rất rắc rối. Nhưng chỉ duy trì được 4 năm, tới năm 1664 thời Lê Huyền Tông lại quay về phép cũ là:
Quân thường trực lấy từ Thanh Hóa – Nghệ An: cứ 3 đinh lấy 1 lính, tại 4
Ngoại binh lấy từ tứ trấn: cứ 5 đinh lấy 1 lính, sinh thêm không kể, chết bớt cũng không trừ.
Từ tháng 12 năm 1721, Trịnh Cương thống nhất binh chế trong nước theo cùng một chính sách: dù là ngoại binh hay quân thường trực đều cứ 5 đinh lấy 1 lính. Quân Thanh – Nghệ gọi là ưu binh và quân tứ trấn gọi là nhất binh.

HAI LÀ, ĐỂ XÂY DỰNG ĐƯỢC QUÂN ĐỘI MẠNH, CÁC CHÚA TRỊNH ĐÃ QUAN TÂM ĐẾN CHẾ ĐỘ TUYỂN CHỌN, HUẤN LUYỆN, ĐÃI NGỘ ĐỂ QUÂN ĐỘI ẤY TUYỆT ĐỐI TRUNG THÀNH VỚI CHẾ ĐỘ VÀ ĐẤT NƯỚC.

Các Chúa Trịnh đã nắm chắc quyền thống lĩnh quân đội. Quyền nguyên soái tiết chế các sứ thủy bộ chư quân. Nhà Trịnh không chia sẻ cho ai. Bởi họ Trịnh ý thức sâu sắc, quân đội là chỗ dựa là sức mạnh để nằm giữ quyền cai trị. Không chỉ có chức Nguyên soái thống lĩnh quân đội mà các chức chỉ huy then chốt khác cũng là người của dòng họ hoặc của các công thần do họ Trịnh tuyển chọn.

Để cho binh lính và các cấp chỉ huy có điều kiện thực hiện nhiệm vụ, các Chúa Trịnh đã rất chú trọng đến việc trang bị vũ khí, huấn luyện binh bị, võ nghệ để các binh lính trở thành những chiến binh thực thụ trên trận mạc. Về vũ khí quân đội Nhà Trịnh đã được trang bị hỏa khí, có súng hỏa mai và các loại súng pháo lớn nhỏ.

Bộ binh ở các thành đều dùng pháo lớn để phòng giữ. Thủy quân được trang bị pháo thuyền.
Cùng với việc biên chế, tổ chức, trang bị kỹ càng, binh lính nhà Trịnh còn được huấn luyện thuần thục kỹ lưỡng. Đặc biệt đối với quân thủy, chúa Trịnh khẳng định xu hướng phát triển như một đội quân chuyên đánh dưới nước độc lập trong quân đội của mình.

Để xây dựng lực lượng quân đội hùng mạnh, chính quyền Lê-Trịnh chú trọng việc mở trường đào tạo sĩ quan gọi là võ học sở. Năm 1721, chúa Trịnh Cương đặt ra phép học võ và thi võ, đặt chức Giáo thụ dạy nghề võ.

Con cháu công thần và con cháu quan lại đều cho vào học võ và học tập chiến lược. Hàng tháng có tiểu tập, 4 tháng trọng điểm trong năm là tháng 2, 5, 8, 11 thì đại tập. Mùa thu, mùa xuân tập võ nghệ, mùa hè và mùa đông giảng về võ kinh.
Do đề cử của giáo thụ, người nào trúng tuyển sẽ được bổ dụng.
Chế độ thi võ của triều đình 3 năm 1 kỳ, dân đinh ai có tài cũng được đi thi. Mỗi kỳ thi có 3 lần. Lần 1: hỏi sơ lược về Binh pháp Tôn Tử. Lần 2: Ai thông hiểu về sách nghĩa sẽ được vào dự thi võ: cưỡi ngựa múa đâu mâu, đấu kiếm lăn khiên và múa siêu đao. Lần 3: thi về mưu mẹo trong việc binh.

Những người trúng tuyển được vào phủ chúa để thi phúc trạch, tùy theo tài cao thấp mà bổ dụng. Với quan võ cấp cao hầu hết được phong tước quận công.

Từ năm 1724, Trịnh Cương đặt ra lệ thi võ, chúa Trịnh tự mình xét duyệt và vua Lê tham dự. Các võ sinh phải học nhuần nhuyễn các môn võ thuật cá nhân, cưỡi ngựa, bắn cung, múa kiếm, múa đao, che khiên, đâm mâu,… và các môn bổ trợ khác. Cũng như bên văn có thi Hương, Hội, Đình, thì bên võ có thi Sở cử và Bác Cử. Ai vượt qua Sở cử thì được thi ngay Bác Cử. Lệ thi 3 năm 1 lần, chia làm hai loại: Thi ở các trấn gọi là Sở cử vào các năm tý, ngọ, mão, dậu và thi ở kinh đô gọi là Bác cử vào các năm thìn, tuất, sửu, mùi.

Mỗi khoa thi chia làm 3 trường. Người trúng tuyển trong cả ba trường trong các kỳ thi Sở cử gọi là Cống sĩ, đỗ thấp hơn gọi là Biền sinh; chỉ trúng 2 trường gọi là Sinh viên. Ai trúng cách 3 kỳ thi được gọi là Tạo sỹ (tương đương Tiến sỹ bên văn), ai yếu hơn được vớt đỗ được gọi là Tạo Toát. Căn cứ vào kết quả kỳ thi, mối thân tộc trong dòng họ hoặc công thần với triều đình tùy theo hạng mục để bổ nhiệm. Tổng số thời Lê trung hưng đã tổ chức 19 kỳ thi võ học lấy đỗ 199 tạo sĩ.

Vì phép thi cử này chỉ nặng về văn nên tới năm 1731, chúa Trịnh Giang thay đổi phép thi Bác cử, theo đó lần 1 thi bắn cung, múa siêu đao; lần 2 thi múa kiếm, cưỡi ngựa, bắn tên và lần 3 mới thi văn sách và phương pháp mưu lược nhà binh.

Lê Quý Đôn ghi lại rằng nhà Lê Trung Hưng từ năm 1724 trở về sau vẫn còn có môn cưỡi ngựa bắn cung trong thi Bác Cử. Nhưng trong Thượng Kinh Phong Vật Chí, ông cho biết thời đại ông người ta đã bãi bỏ cưỡi ngựa bắn cung, và thay bằng nội dung cưỡi ngựa bắn súng trong khoa cử.

 

Để động viên và làm an lòng binh sỹ và gia đình họ, chúa Trịnh còn dùng một số chính sách đãi ngộ vật chất khác. Như tháng 2/1707 chúa Trịnh định ra điều lệnh tăng tuất cho các tương, sỹ chết trận. Cai đội và đội trưởng thì được truy tặng chức hiệu điểm và cấp thêm ruộng, con cái họ được miễn các loại lao dịch. Không chỉ dùng đãi ngộ về vật chất và trước đó vào năm 1674 chúa Trịnh Tạc còn đề xuất thêm hình thức muốn thăng thưởng phải thêm việc hỏi ý kiến của quân lính và thuộc cấp nơi người dự định cất nhắc mới được thăng thưởng. Chính hình thức này các tướng sỹ trong quân ngũ từ Quận công đến Cai, Đội phải hết sức tu luyện mình và nhờ thế quan và lính đều hết sức, càng trung thành với nhà chúa.

Trong bối cảnh hết sức phức tạp, các đời chúa Trịnh đều đã nhất quán chăm lo xây dựng quân đội của mình bằng việc tuyển chọn, huấn luyện, trang bị và đãi ngộ cốt để quân đội ấy tuyệt đối trung thành với mình,bảo vệ quyền lợi quốc gia, dân tộc.

THỨ BA, ĐỂ GIỮ TOÀN VẸN LÃNH THỔ VÀ THU HỒI LẠI NHỮNG VÙNG ĐẤT BỊ NHÀ THANH XÂM LẤN MÀ KHÔNG ĐỂ XẢY RA CHIẾN TRANH, CÁC CHÚA TRỊNH ĐÃ CÓ KẾ SÁCH NGOẠI GIAO MỀM DẺO, KHÔN KHÉO.

Về mặt quốc phòng, để giữ gìn trật tự, trị an trong nước và giữ yên lãnh thổ biên cương, các Chúa Trịnh đã nối nhau thực thi đường lối PHÒNG VỆ CƯƠNG QUYẾT CỨNG RẮN với đối sách chính trị ngoại giao mềm dẻo. Nhà Trịnh ngoài việc tổ chức các hương đoàn (như đã trình bày ở trên) còn chú trọng bố trí những đạo quân mạnh với những tướng lĩnh tài giỏi đủ uy tín chỉ huy. Song để giữ cho chiến tranh với nước lớn không xảy ra, chúa Trịnh đã dùng những quan văn xuất sắc như tham tụng (Phó Thủ tướng) Nguyễn Công Hãng, Lê Anh Tuấn, Nguyễn Công Cơ… đều là những bậc hiền thần tài giỏi xuất thân khoa bảng từ lúc trẻ. Các bậc đại tài giỏi ấy đã phò giúp chúa Trịnh Cương thực hiện nhiều canh tân đất nước từ việc binh bị, chính trị, xã hội , kinh tế, ngoại giao. Từ mùa hè năm 1718 đến mùa thu năm 1719 Nguyễn Công Hãng vâng mệnh Chúa dẫn đầu đoàn sứ bộ sang Trung Quốc. Trong kỳ đi sứ lần này ông đã trổ tài ngoại giao thực hiện sứ mệnh triều đình giao cho buộc nhà Thanh bỏ lệ cống người vàng và nước giếng Loa Thành.

Năm 1725 nhà Thanh buộc phải trả lại 80 dặm dất. Năm 1728 chúa Trịnh lại khôn khéo đưa thư trước tới nhà Thanh “thuyết phục”. Cuối cùng vua Thanh phải tuyên dụ trả Đại Việt 40 dặm đất nữa trong đó có mỏ đồng Tụ Long mà không gây hấn gì.

Trong suốt hơn hai thế kỷ nắm quyền điều hành đất nước, nhà Trịnh đã thực thi các chính sách và cải cách nhiều chính sách cai trị cho phù hợp với từng hoàn cảnh. Chỉ xét riêng về quốc phòng, các Chúa Trịnh đã chú ý xây dựng tổ chức quân đội mạnh, có nhiều ưu đãi cho những tướng, sỹ trực tiếp tham gia trận mạc để họ trung thành. Đối với đất nước, nhà Trịnh cũng đã có chính sách ngoại giao hết sức khôn khéo, không để xảy ra chiến tranh mà vẫn thu hồi được những phần đất cũ bị xâm chiếm, bảo tồn được độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ.
TXT và tổng hợp.

Share.

About Author

Leave A Reply