CHÚA TRỊNH CƯƠNG – VỊ CHÚA VĂN TRỊ VỚI CÔNG TRẠNG GIÀNH LẠI ĐẤT BẰNG ĐẤU TRANH HÒA BÌNH

0

CHÚA TRỊNH CƯƠNG – VỊ CHÚA VĂN TRỊ VỚI CÔNG TRẠNG GIÀNH LẠI ĐẤT BẰNG ĐẤU TRANH HÒA BÌNH

Vũ Thế Khôi

Trịnh_Cương

(Chúa Nhân Vương Trịnh Cương)

Có một thời người ta nói đi nói lại luận điệu của sử gia triều Nguyễn: họ Trịnh vô đạo, lấn át quyền Vua Lê. Hơn mươi năm trước, có lần hầu chuyện Lão Ông đã cận kề cửu tuần, xưa từng 15 năm giữ chức Bộ trưởng Tư pháp trong Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chúng tôi nhắc lại cái luận điệu đó, thì được cụ dạy, đại khái: Khách quan có thể nhìn nhận khác. Cuối đời Lê sơ chế độ phong kiến chuyên chế đã đẻ ra Vua Lợn dâm ô, Vua Quỷ hiếu sát có nguy cơ làm tiêu ma sự nghiệp giải phóng vĩ đại của tổ tiên họ Lê, vì vậy mới ra đời một kiểu “phân quyền” độc đáo trong chế độ quân chủ Đại Việt: Vua không trị vì mà ngồi làm vì, chúa cầm quyền. “Ngồi làm vì” đấy, mà nhà chúa, nắm cả quyền chính trị, quân sự, át thì có át, mỗi khi Vua quá hèn, vẫn không dám lật, bởi “cái vì” của người ta có thế bàn thạch là lòng dân. Họ Trịnh giỏi giang mà khôn ngoan, biết soi vào những tấm gương lịch sử tầy liếp: Nhà cải cách Hồ Quý Ly (thế kỷ 14) tài ba lỗi lạc, thoán ngôi nhà Trần nên “lòng dân không theo”, mệnh tất phải yểu, được có 7 năm; họ Mạc, giết vua Lê để cướp ngôi, dẫu có tài kinh bang tế tế và thượng sách chiêu hiền đãi sĩ, cũng chỉ ngồi được trên cái ngôi ở Thăng Long có 60 năm. Họ Trịnh chịu dưới một người để trên trăm người, nắm thực quyền cai quản quốc gia trên 250 năm, lâu dài hơn cả họ Lý (215 năm), họ Trần (175 năm), họ Lê (thực quyền 99 năm). Lão Ông, người đã phải trải qua gần trọn một thế kỷ với 4 cuộc chiến tranh: Đại chiến thế giới thứ nhất (1914 – 1918), Đại chiến thế giới thứ hai (1939 – 1945), Kháng chiến chống xâm lược Pháp (1945 – 1954) và Chống Mỹ cứu nước (1960 -1975) – cũng ghi nhận một công trạng hiếm có của các chúa Trịnh: Trong hơn 200 năm chấp chính, họ Trịnh đã khéo léo ngoại giao với “Thiên triều” (Trung Quốc), tránh được cho đất nước khỏi họa xâm lăng, giữ được cho muôn dân cuộc sống thái bình lâu dài nhất trong lịch sử nước nhà. Tránh chiến tranh với nước lớn, nhưng chẳng những không để mất một tấc đất Lê Thái Tổ đã giành lại, mà một ông Chúa Trịnh nào đó chỉ bằng ngoại giao còn đòi lại được vùng đât biên giới có mỏ chì, mỏ đồng!.

Ông chúa bằng ngoại giao đòi được đất đó chính là Trịnh Cương, chấp chính từ 1709 – 1729. Theo các sách Đại Việt sử ký tục biên, Lịch Triều tạp kỷ, và các bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam nhất thống chí, sự việc này vốn có lai lịch phức tạp từ trước, được Trịnh Cương giải quyết dứt điểm trong 3 năm 1725 – 1728, vắn tắt như sau:

Trước đó, năm 1672, nhân khi Chúa Trịnh Tạc cùng Tiết chế Trịnh Căn đem đại binh mã Nam chinh, hậu duệ của Vũ Văn Mật là Vũ Công Tuấn, vốn đã hàng phục triều đình Lê – Trịnh và được phong tước Khoan quận công, lại làm phản, chạy về Tuyên Quang là đất căn bản cũ của chúa bầu Vũ Văn Mật, đánh chiếm một số châu động, mưu đồ cát cứ. Sau, bị quân Trịnh tiến đánh quyết liệt, Tuấn chạy sang Vân Nam, đem dâng 3 động ở châu Vị Xuyên để được nương nhờ. Bọn thổ quan ở phủ Khai Hóa (Trung Quốc), được hậu thuẫn của Tổng đốc tỉnh Vân Nam, đã lợi dụng cơ hội này lấn chiếm đến 120 dặm vùng đất hai châu biên giới thuộc trấn Tuyên Quang có các mỏ chì và mỏ đồng của Việt Nam là Vị Xuyên (nay là huyện Vị Xuyên – Hà Giang) và Thủy Vĩ (nay là huyện Thủy Vĩ – Lào Cai). Đến năm 1689 nhà Thanh cho bắt Vũ Công Tuấn trả lại cho triều đình An Nam trị tội, nhưng đất đai thì không trả, viện lời tâu láo của bọn thổ quan Vân Nam là đất ấy đã “nội phụ” từ đầu đời Minh!.

trinhcuong3-1

 

 

 

 

(Hội thảo khoa học Quốc gia về vai trò sự nghiệp của chúa Trịnh Cương do Hội sử học Việt Nam tổ chức năm 2008)

Ngay từ năm 1688, khi bị phía triều Thanh chiếm đất, triều đình Lê – Trịnh đã phái cử các quan đại thần Lê Huyến trấn thủ Tuyên Hưng cùng Đốc đồng Đặng Đức Nhuận và Trần Thọ đưa ra biện luận đòi lại đất, nhưng Thổ ti Vân Nam không chị trao trả”[1]. Tiếp theo, năm 1691, trong lần đi sứ sang dâng lễ tuế cống thường kỳ, hai viên chánh sứ là Nguyễn Danh Nho và Nguyễn Quý Đức nhân được gặp trực tiếp vua Khang Hy đã đề đạt vấn đề những vùng đất Việt Nam bị các quan triều Thanh chiếm giữ, trong đó có nhắc đến 3 châu Vị Xuyên, Bảo Lạc và Thủy Vĩ, những phía Triều đình Thanh cố tình làm ngơ[2]. Năm 1697 Chúa Trịnh Căn sai sứ thần là Nguyễn Đăng Đạo sang dâng đồ cống, nhân phụ tâu bày việc xin trả lại đất, nhưng không được.

AnSuTuLong13mage025

 

 

 

 

 

(Vị trí biên giới có mỏ đồng Tụ Long của Việt Nam)

Năm 1725 Chúa Trịnh Cương sai đưa thư sang biện bạch, không thông qua Tổng đốc Vân Nam đang cai quản vùng đất lấn chiếm, mà nhờ Tổng đốc tỉnh Quảng Tây (thật khéo léo lợi dụng mâu thuẫn giữa hai viên tổng đốc phiên trấn!) chuyển đạt tới triều định Nhà Thanh. Hoàng đế Ung Chính phải cử phái quan xuống hội khám với hai đại thần của phủ Chúa là bọn bồi tụng (như Phó Thủ tướng) Hoàng giáp Hồ Phi Tích và Thám Hoa Vũ Công Tể, nhưng “hai bên vẫn giằng co nhau không giải quyết được”.

Năm 1726, có chỉ dụ về việc biên cảnh Vân Nam của Hoàng đế Nhà Thanh dưa sang, Trịnh Cương lần này rút kinh nghiệm, không xuất quan lớn khoa danh cao nữa mà sai quan nhỏ, hàm chánh lục phẩm thôi, nhưng nắm vững thực địa biên cương là Hiệu thư Vũ Đình Ân lên tiếp chỉ ở Tuyên Quang và hội đồng lập mốc biên giới. Vũ Đình Ân xuất thân từ dòng họ Vũ nổi tiếng có truyền thống khoa bảng ở Mộ Trạch, Hưng Yên, một dòng họ có đến 25 người đỗ đại khoa, đắc lực phò tá họ Trịnh cả trong nội chính lẫn ngoại giao, một số người từng được các chúa Trịnh giao trọng trách các sứ thần như Vũ Duy Hài, Vũ Công Đạo, Vũ Duy Đoán. Vũ Đình Ân là con trai Hoàng Giáp Vũ Đình Thiều, cũng từng vâng lệnh sang Trung Quốc tranh biện về vị trí cột đồng phân định ranh giới hai bên, bị nhiễm bệnh rồi mất. Vũ Đình Ân đỗ Tiến sĩ năm 1712, từng giữ các chức vụ nơi biên ải như Đốc Đồng (như Viện Kiếm soát bây giờ) trấn Lạng Sơn, Hưng Hóa, hẳn nắm vững hiện trạng lãnh thổ và các văn bản tranh biện qua lại giữa hai bên. Bởi vậy ông đã cãi lý có kết quả, “lập giới mốc ở dưới núi Xưởng Chì, đất nước ta được Nhà Thanh trả lại 80 dặm (Nhà Thanh giữ lại 40 dặm)”. Tuy nhiên “ 40 dặm giữ lại có xưởng đúc đồng vẫn còn thuộc phủ Khai Hóa (nhà Thanh). Vụ việc như vậy là giải quyết chưa xong, nhưng nhà Thanh đã lập tực cho đắp bờ đường ngăn, đặt quan ải, phái lính tới canh giữ. Hoàng đế Ung Chính nhà Thanh hai lần ra sắc dụ ép ta phải chấp nhận cột mốc mới. Phía Việt Nam không chịu. Tình hình biên giới trở nên căng thẳng. Tổng đốc Vân Nam tăng cường quân bản bộ và xin điều thêm binh mã 3 tỉnh giáp giới. Nhưng Ung Chính chưa muốn động binh.

Ha Giang 1

 

 

 

 

 

(Nếu không có thắng lợi này thì Vị Xuyên – Hà Giang đã bị Trung Quốc thôn tính)

Tháng 6 năm 1728, nhà Thanh đánh động cử bọn sứ giả Hàng Dịch Lộc và Nhậm Lan Chi sang trước “để xét động tĩnh bên ta”, khiến “trong Kinh, ngoài trấn đều lấy làm ngờ, lòng người hoang mang sợ hãi”. “Các bầy tôi trong triều có người xin xuất quân, chống giữ cầm cự. Có người muốn đặt quân doanh và lính thú ngoài biên ải”. Nhưng Trịnh Cương tỏ ra bình tĩnh, sáng suốt nhận định “đất ấy sẽ trả lại cho ta chứ chả nhẽ không có hấn khích gì mà họ lại gây sự nơi lãnh để là biên cương cũ”[3]. Một mặt chúa Trịnh Cương “nghiêm sức cho trấn quan và thổ mục ở Tuyên Quang phải sửa sang việc binh, tuần phòng biên giới, nhưng không được hoạt động một cách liều lĩnh”, mặt khác, ông lại “sai viết quốc thư đưa sang nhà Thanh”[4]. Lần này, hẳn là do kết quả khảo sát thực địa của Vũ Đình Ân trong lần hội khám năm 1726, Trịnh Cương đã nắm vững thực trạng vùng biên giới còn tranh chấp, nên sau những lời lẽ khiêm nhường “giãi bầy lòng thành thờ nước lớn, sợ mệnh trời” đã chỉ thẳng ra rằng phải lấy sông Đổ Chú làm ranh giới. Lại được báo rằng rốt cuộc nhà Thanh cho rút người và ngựa về, ông phân tích chính xác “ Người Thanh rất đỗi thèm muốn đất mỏ đồng, nhưng thấy ta có phòng bị, do đó mới rút người và ngựa về”[5]. Theo Khâm định Việt sử thông dám cương mục thì Ung Chính phải “lập tức sai viết sắc văn khác” đồng ý trả lại nốt 40 dặm cùng với xưởng đồng Tụ Long, lệnh cho bọn sứ thần Dịch Lộc và Lan Chi phải chờ nhận sắc văn mới hẵng vào địa phận Đại Việt. Vậy thì sắc văn trước hẳn vẫn định ép ta chấp nhận hoàn toàn giới mốc Xưởng Chì, tức chịu mất 40 dặm còn lại với xưởng động Tụ Long? Và nếu bộ sứ thần ‘xét động tĩnh bên ta (Đại Việt) mà kiếm cớ thì cho “động binh 3 tỉnh”?.

Trước áp lực cả ngoại giao lẫn quân sự Trịnh Cương vẫn tỏ ra tự tin và quyết đoán rằng lần này nhà Thanh phải cho lập cột mốc đúng thực trạng biên giới giữa hai nước. Bởi vậy, chúa không sai Vũ Đình Ân đến nữa mà cử hai đại thần đủ thẩm quyền lập cột mốc mới là Binh Bộ thị lang (Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng) Nguyễn Huy Nhuận và Quốc tử giám Tế tửu (Hiệu trưởng Quốc tử giám) Nguyễn Công Thái cùng bọn sứ thần Nhà Thanh lên tận biên giới Tuyên Quang tra xét tình hình tại chỗ. Đến giờ phút chót viên thổ quan phủ Khai Hóa của Trung Quốc vẫn ngoan cố gian lận!. Sách Lịch triều tạp kỷ chép cụ tểh như sau: “ Bấy giờ quan nhà Thanh cho chia sông Đổ Chú làm gianh giới, nhưng thổ quan phủ Khai Hóa chỉ láo vào sông Đổ Chú giả để chực giành lấy các làng ở Bảo Sơn. Bọn Công Thái xông pha lam chướng, vượt nơi hiểm trở, đi qua các mỏ đồng, mỏ bạc, nhận ra được chỗ sông Đổ Chú thực, bèn cùng quan nhà Thanh, hai bên tự đi báo lại, tranh biện và bẻ lý mãi, rồi lập đồng trụ làm giới mốc. Thế là việc cương giới mới được ổn định. Mỏ đồng Tụ Long lại thuộc về ta (Việt Nam)” (Lịch triều tạp kỷ, tr.427 – 428). Huy Nhuận và Công Thái làm quan lớn trong triều, làm sao lại có thể biết rõ vị trí một con sông nhỏ giữa núi rừng biên giới nếu như không có trong tay họa đồ điền dã của Vũ Đình Ân hai năm trước? Trịnh Cương quả có tài dùng người đúng việc!.

images

(Cổng thờ đi vào nhà thờ tể tướng Nguyễn Công Thái do chúa Trịnh xây dựng cho người thầy cũng là trung thần, liêm thần, người tài năng Nguyễn Công Thái )

Để sau này không bên nào lấn chiếm nữa, hai bên cùng lập bia đá trong một ngày trên hai bờ sông Đổ Chú, khắc rõ địa danh được thỏa thuận lấy làm giới mốc và họ tên những người tham gia lập. Trong Khâm định Việt sủ thông giám cương mục, T2, tr. 469 – 470 có chép lại hai bài văn bia ấy.

Bia bên bờ nam khắc:

‘Giới mốc châu Vị Xuyên, trấn Tuyên Quang, nước An Nam, lấy sông Đổ Chú làm căn cứ.

Ngày 18 tháng 9, năm Ung Chính thứ 6 (1728). Chúng ta là: Nguyễn Huy Nhuận, Tả thị lang bộ Binh, và Nguyễn Công Thái, Tế tửu Quốc tử giám, được triều đình ủy sai, vâng theo chỉ dụ, lập bia đá này”.

Bia bên bờ Bắc khắc:

“Khai Dương ở xa tận một góc trời, tiếp giáp với đất đai Giao Chỉ. Tra trong sách vở ghi chép lại, thì giới mốc chỗ đất này phải ở vào sông Đổ Chú cách phủ trị Khai Hóa 240 dặm về phía Nam. Chỉ vì về sau giới mốc lẫn lộn, viên quan do triều đình phái ủy khám xét tâu xin lập giới mốc ở núi Xưởng Chì (Diên Xưởng sơn) Hoàng thượng ta ân uy rộng khắp phương xa, nghĩ Giao Chỉ đời đời giữ đạo cung kính thuận theo, cả ban cho dụ chỉ, lại đem 40 dặm đất tra xét ra được, để trả lại cho.

Bọn Sĩ Côn chúng tôi, tuân theo tờ hịch của bộ viện quan Tổng đốc Vân Quý (Vân Nam, Quý Châu) ủy thác, nên ngày mồng 7 tháng 9, chúng tôi hội đồng với bọn Nguyễn Huy Nhuận, viên quan phái ủy của nước Giao Chỉ, công đồng bàn định, lấy con sông nhỏ ở phía Nam vịnh Bạch Mã làm giới mốc. Chỗ này tức chỗ trong tờ tâu của quốc vương gọi là sông Đổ Chú đấy.

Vậy chúng tôi tuân theo dụ chỉ, lập nhà bia ở phía Bắc giới sông. Từ đây biên cương bền vững lâu dài, ức muôn năm được đội ơn không bao giờ mai một.

Ngày 18 tháng 9 năm Ung Chính thứ 6.

Chúng tôi là: Ngô Sĩ Côn, giữ chức Tri phủ Khai Hóa và Vương Vô Đảng, giữ chức Du kích trung doanh trấn Khai Hóa, kính dựng bia này”.

Chỉ đọc hai bài văn bia cũng rõ lẽ phải thuộc về bên nào. Sự thực thường thẳng băng, ngắn gọn. Gian tà mới phải dài dòng, quanh co.

Thành công của chúa Trịnh Cương có phải là sự may mắn ngẫu nhiên không?

Có thể khẳng định là không. Nó là kết quả của đường lối trị quốc mà ông chủ trương: làm cho “thực túc binh cường”, chính sự nghiêm minh, biên cương vững chắc. Điều này những ai đọc Lịch triều tạp kỷ của Ngô Cao Lãnh đều thấy rất rõ. Chỉ xin minh chứng bằng một số chủ trương chính sách của chúa Trịnh Cương liên quan đến ruộng đất, hành chính và xây dựng quân đội, ghi rất sơ sài trong các sách chính sử, nhưng lại được tác gia Cao Lãnh chép khá chi tiết, chứng tỏ trong tay ông từng có nhiều văn bản của thời ấy.

Để ‘khiến cho ai nấy đều được thỏa thuê về sự làm ăn sinh sống” (lời chúa Trịnh Cương) thì ở xứ sở nông tang, ruộng đất là phương tiện tối thiểu. Vừa lên ngôi chúa cuối năm 1709, mồng 6/2/ 1711 Trịnh Cương đã ban hành một chính sách ruộng đất chi tiết, trong đó có những điều khoản đảm bảo cho dân nghèo có ruộng cày:

– “Cấm ngặt bọn nhà quyền quý, nha môn, hào phú nhân dịp những xã dân vì nghèo đói phải xiêu dạt mà mua đất của họ chiếm làm của riêng, tự tiện lập thành trang trại. Ai đã thiết lập trang trại thì hạn trong 3 tháng phải triệt đi, cưỡng lại sẽ bị trị tội theo pháp luật”.

– “Những người vì nghèo đói phải trôi dạt đến ngụ cư ở nơi khác, mượn được đất để khai khẩn thành ruộng vườn, nếu có đóng góp với địa phương có đất thì đều được cư trú và cấy trồng, dân sở tại không được kiếm cớ đuổi họ đi”.

– Trong thể lệ chia quân bình ruộng công của xã, ông cũng có quy định hạn chế số ruộng đất của bọn quan lại, quý tộc: “hễ quan viên nào theo chức tước, phẩm trật đã được cấp dân lộc và điền lộc (dân đinh các xã và ruộng đất mà công thần được cấp để ăn lộc) cũng nên đình chỉ việc thêm ruộng’. Dân nghèo đói phải phiêu dạt kiếm ăn, ruộng đất ở quê bỏ hoang, thuế tô đọng thiếu chồng chất nhiều kỳ thì ông chía biết nhìn xa này cho tha hẳn không phải truy nộp, đợi cho họ trở lịa quê phục hồi được canh tác thì mới bắt đầu tính thuế tô mới.

Trịnh Cương bắt các thân vương họ Trịnh “giải tán binh quyền”, tức không nắm trọng binh, nhằm loại trừ họa tranh giành, chém giết lẫn nhau từng xảy ra nhiều lần trong nội tộc. Ông xây dựng quân đội thống nhất. Binh lính trong Kinh chia thành 6 doanh trung quân, mỗi doanh do một tướng tài, không phải họ Trịnh chỉ huy. Ông cũng bỏ lệ cũ chỉ tuyển lính Thanh – Nghệ, cứ 3 đinh vùng đất căn bản này thì một người phải đi lính, khiến cho vùng Thanh – Nghệ xơ xác. Ông quy định tuyển binh trong tất cả các trấn. Nhưng lính thì cũng từ nông dân mà ra, nên tất cả những người đi lính đều được cấp khẩu phần ruộng, từ 3 – 6 mẫu tùy theo loại lính. Để đảm bảo phát triển sản xuất nông nghiệp Trịnh Cương cử những đại thần của Phủ Chúa như các Tham tụng Nguyễn Công Hãng, Lê Anh Tuấn… làm khuyến nông sứ tại tứ trấn và không cho họ ngồi trong Kinh chỉ đạo mà bắt thân đi xem xét địa thế, đồng ruộng các xã, “chỗ nào nên chứa nước thì cho đắp đập tiện mở và đề phòng hạn hay lụt”. Theo chế độ cũ, việc đê điều phó thác cho các quan hàng trấn đôn đốc sửa đắp nên họ chỉ làm tạm bợ. Trịnh Cương bãi bỏ chế độ đó và bắt đầu sai quan văn võ trong phủ Chúa thay phiên nhau đi ốp việc bảo trì đê điều (tr.168).

Việc làm mất lòng dân nhất là sự nhũng nhiễu của bọn quan tham ô lại. Trịnh Cương là một ông chúa rất kiên quyết bài trừ tệ nạn này. Mỗi kỳ ân xá, tội phạm lớn nhỏ đều được ông thay mặt Vua ra lệnh chỉ giảm tội cho, nhưng … “còn hạng tham quan ô bị tội thì không nằm trong lệ này”. Biết bọn quan viên và sai nha xuống địa phương đo đạc, thu tô thuế, xét xử là hay nhũng nhiễu người dân nhất, ông chúa này ra những quy định nghiêm cấm chi tiết và cụ thể đến mức chúng không còn khe hở mà lách, chẳng hạn: “… việc cung đốn cơm ăn, mỗi ngày 2 bữa, mỗi bữa 1 mâm, không được yêu sách lấy tiền nữa. Nếu người đi kiện tình nguyện đưa tiền để thay cho bữa cơm thì cho phép người thừa sai chỉ được lấy mỗi bữa cơm 36 đồng tiền. Nếu người bị đòi đi hầu kiện chưa nộp được tiền thì cho phép người thừa sai chỉ được ở lại 1- 2 ngày, nếu người ta đã nộp tiền rồi thì phải tức tốc đi ngay, không được nấn ná”.(tr. 183)… ‘… hễ vi phạm thì người thừa sai sẽ bị phạt trượng vì tội nhũng nhiễu và viên quan cũng bị xử phạt vì không biết răn bảo kẻ lại dịch”. Nghĩa là thời ấy lũ quan trên của bọn cấp dưới sai phạm không thể nói với chúa Trịnh Cương, đại khái: dạ, điều này chúng không báo cáo lên, hạ thần không biết ạ!.

Một việc lạ dưới chế độ quân chủ chúa Trịnh Cương nhận thức được rằng không dựa vào dân không thể chống tham nhũng. Ông không chỉ nhiều lần cầu lời nói thẳng của quần thần như các minh quân khác, mà còn “cho phép dân địa phương yết bảng ở chỗ lỵ sở, viết thật đầy đủ về điều thiện, điều ác của quan địa phương”, có kèm theo răn đe kẻ nào vu cáo sẽ bị trị tội (tr. 383). Khâm định Việt sử thông giám cương mục (t2. Tr.453) của triều Nguyễn chuyên chế độc đoán cũng phải ghi điều này.

Suốt hai chục năm cầm quyền Trịnh Cương giữ vững kỷ cương phép nước là nhờ chính ông gương mẫu tôn trọng kỷ cương ấy. Một số nịnh thần (đời nào cũng có, kể cả bên cạnh các minh quân) ít nhất một lần đề nghị ông tranh ngôi vua, dù chỉ trên hình thức. Tháng 1 năm 1721, nhân có việc quy định phẩm phục vào chầu, Trịnh Quán và Nguyễn Công Hãng xin chúa mặc áo màu vàng (màu của nhà vua). Chúa Trịnh bèn vời họ đến, dụ bảo rằng: “ta nối nghiệp Chúa, giúp rập nhà vua, thường vẫn giữ lòng tôn kính. Màu vàng là đồ mặc của thiên tử, chỉ dành riêng cho hoàng thượng dùng để cho hợp lễ. Từ nay trở đi, những lúc làm việc chính sự, triều hội và những lúc bình thường tiếp kiến quần thần thì ta dùng y phục màu tía, hầu để phân biệt với các ông mà thôi” (tr. 294). Năm 1724, mùa xuân theo lệ có lễ tế trời đất ở đàn Nam Giao, vua Lê Dụ Tông bị đau chân, sai Trịnh Cương cử hành. Bọn nịnh thần xin chúa đứng vào vị trí của Vua làm chủ tế. Chúa Trịnh Cương không nghe, vẫn đứng vị trí bồi tế như lệ đã định, coi như “quyền tạm cử hành lễ”. “Thượng” luôn “chính” như vậy thì ‘hạ tác loạn” sao được.

Nền văn trị cường thịnh của chúa Trịnh Cương có hai sự xác nhận khách quan.

Một là của khác buôn kiêm do thám mà chúa Nguyễn Phúc Chu sai ra Đàng Ngoài trong 2 năm. Tháng 2/1717 “bọn tên Bình và tên Quý, người khách Phúc Kiến, mà trước đây Tộ Quốc Công (Nguyễn Phúc Chu) cho đi do thám tình hình Đàng Ngoài, hiện nay đã đến Phú Xuân trình bày: Chúa Trịnh ở trong Kinh đô là người sáng suốt quả quyết, lại biết trọng dụng các Nho thần như Đặng Đình Tướng, là người chính trực, thì làm Thiếu Phó; Nguyễn Mại là người anh kiệt thì làm trấn thủ. Vả lại Chúa Trịnh thân hành đi duyệt thủy trận, bộ trận, thao luyện lính súng. Quân đội đều có phép tắc và kỷ luật cả. Ở Kinh đô, dưới quyền Đề đốc và thị vệ có nhiều quan quân và voi ngựa. Bốn trấn lớn ở Đông, Tây, Nam, Bắc và Thanh Hoa đều có binh khố. Đồn và doanh trại ở Nghệ An quân lính dưới quyền 18 quận công và các đề đốc có độ 7, 8 nghìn người. Ba đại doanh ở Bố Chính có chừng 3000 quân. Mọi việc trên đây cho đến số mục chiến thuyền và binh lương đều nhất nhất trình bày sơ qua cả. Tộ Quốc công nhân đố biết được “Trung Triều” (Triều đình Trung ương) bấy giờ đang cường thịnh, nên mới chịu thôi âm mưu dòm ngó ra Bắc”

Hai là của chính Hoàng đế “Thiên Triều” (Trung Quốc). Điều này thì cả Khâm Định Việt Sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn cũng phải ghi. Trong lần tiến cống mùa xuân năm 1726, Ung Chính vời đoàn sứ thần của Phạm Khiêm Ích đến yết kiến ở cung Kiền Thành, ban thưởng ngọc báu, bạc và đoạn hậu hơn các lần trước và đặc biệt tự tay viết ban cho bốn chứ “Nhật Nam thế tộ” (đời đời giữ vững ngôi báu phương Nam).

Phải chăng ngay từ lúc ấy, Hoàng đế Trung Quốc đã nghĩ rằng nên trả lại đất cho An Nam thì hay hơn?.

[1] Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập II, tr.357 – 358

[2] Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập II, tr.363

[3] Đại việt sử ký toàn thư, tr.108

[4] Lịch triều tạp kỷ, tr. 427

[5] Lịch triều tạp kỷ, tr.429.

Share.

About Author

Leave A Reply