CHI HỌ TRỊNH LẠNG KHÊ – THANH CHƯƠNG – NGHỆ AN

0

CHI HỌ TRỊNH LẠNG KHÊ – THANH CHƯƠNG – NGHỆ AN: CHI HỌ LỚN, BỀ DÀY TRUYỀN THỐNG THỦY TRUNG, YÊU NƯỚC, HIẾU HỌC, ĐÓNG GÓP CHO CÔNG CUỘC DỰNG NƯỚC VÀ GIỮ NƯỚC HƠN 500 NĂM, HIỆN CON CHÁU TIẾP TỤC LÀM RẠNG DANH NGƯỜI HỌ TRỊNH, QUÊ HƯƠNG NGHỆ AN VÀ VIỆT NAM…

14079908_2118898765002277_9154948505693384816_n
Nguồn gốc: Họ Trịnh Lạng Khê có nguồn gốc từ Từ Sơn, Đồng Phú, Phú Thọ, nay là Lập Thạch, Vĩnh Phúc, thuộc chi họ Trịnh cụ Trịnh Minh Triết (người Làng Sáo Sơn, Vĩnh Phúc, trấn Thanh Hoa nay là Làng Sóc Sơn, Vĩnh Hùng, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa – Hiện chi họ này rất lớn mạnh tại Vĩnh Phúc, có nhiều người thành đạt trên cả lĩnh vực Kinh tế, Văn Hóa, Chính trị), năm 1527, Quyền thần Mạc Đăng Dung cướp ngôi Nhà Lê, do không chịu khuất phục Nhà Mạc, ông Tổ của Họ Trịnh Lạng Khê là cụ Trịnh Đường đem theo gia quyến theo Quan Tả Phủ Phán Nguyễn Thù và 04 dòng họ khác là họ Trương, Nguyễn, Đình, Đậu rời Vĩnh Phúc vào Nghệ An lập nên làng Lạng Khê, nay là xóm Đông Thượng xã Đồng Văn, Thanh Chương, Nghệ An. Như vậy người Họ Trịnh là một trong 05 họ đầu tiên lập ra Lạng Khê, được phong là Thành Hoàng Làng Lạng Khê và được thờ tại Đình Cả Lạng Khê (Đình Lạng) được quốc triều phong Thượng Đẳng Thần.

14102505_2118899465002207_8890446683398692899_n
Trải qua hơn 500 năm đến nay đã sinh hạ được hơn 2500 người con thuộc dòng máu Họ Trịnh. Đã có 16 thế hệ sinh sống trên địa bàn các xã Đồng Văn, Thanh Ngọc, Thanh Đồng, Thanh Hưng, Thanh Chi, Thanh An, Thanh Thịnh, Thanh Tường và Thị Trấn Dùng….Còn nhiều người con Họ Trịnh sinh sống các huyện khác trong tỉnh, trong cả nước. Nhiều người con Họ Trịnh sinh sống ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Vinh, Đã Nẵng, Hải Phòng…Họ Trịnh Lạng Khê đã tham gia trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội như: Chính trị, kinh tế, văn hóa- xã hội, an ninh phục vụ xây dựng đất nước và chiến đấu bảo vệ tổ quốc.

14080018_2118899311668889_2414547539592308619_n

Quá trình đấu tranh để tồn tại và phát triển, Tổ tiên ta và lớp lớp kế tiếp đã vượt qua bao gian khổ, hi sinh mất mát, để lại nhiều bài học quý báu cho các thế hệ noi theo. Người Họ Trịnh có những đặc tính đó là:
1. Kiên trung và dám xã thân vì chính kiến của mình. Vì không hợp tác với nhà Mạc, trung thành với Vua Lê mà đã từ Vĩnh Phúc vượt qua bao gian khổ, khó khăn để vào đất Nghệ An lập nên làng mạc, xây dựng quê hương mới để chờ thời cơ phục hồi Nhà Lê. Họ đã phải đấu tranh với thiên nhiên và các biến cố xã hội lúc bấy giờ để tồn tại và phát triển đến ngày nay.
Ông Trịnh Thạc sau khi thoát nạn đã tự lực, tự cường lập nên trang trại giữa núi rừng hoang vu để làm ăn sinh sống duy trì giòng Họ Trịnh cho đến bây giờ.
Nối tiếp các thế hệ con cháu Họ Trịnh Lạng Khê đều vì sự nghiệp chung của cộng đồng, của đất nước không quản ngại hi sinh để bảo vệ công lý. Dưới thời Phong kiến nhiều người đã vào quân đội và hi sinh. Có ít nhất là 02 người đã là Sĩ quan (Quản Hiệp). Trong kháng chiến Chống Pháp người Họ Trịnh một lòng ủng hộ Chính phủ, hăng hai thi đua lao động sản xuất góp sức người, sức của cho cuộc kháng chiến, có hơn 10 người đã hi sinh vì tổ quốc. Trong kháng chiến chống Mỹ, bảo vệ tổ quốc hàng trăm con em Họ trịnh Lạng Khê đã hăng hái lên đường gia nhập Quân đội, TNXP, Dân công Hỏa tuyến, Dân quân du kích tai địa phương …để cùng cả nước thực hiện nhiệm vụ đấu tranh giải phóng dân tộc thống nhất đất nước và bảo vệ tòan vẹn lãnh thổ thiêng liêng của tổ quốc. Đã có ít nhất 17 Liệt sỹ, hàng chục Thương, bệnh binh, hàng trăm gia đình, cá nhân được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân, Huy chương và các danh hiệu cao quý khác trong kháng chiến.

14064004_2118898625002291_6608577918472216892_n

2. Con cháu Họ Trịnh Lạng Khê luôn có ý chí tiến thủ để thành đạt trong học tập và công tác: Chúng ta có thể biết Ông Trịnh Đường Thủy Tổ Họ trịnh Lạng Khê là hậu duệ của ông Trịnh Minh Triết là người đỗ Tiến Sĩ làm thầy ở Quốc Tử Giám. Ông Trịnh Đường được ông Nguyễn Thù tổ chức đi cùng đoàn vào Nghệ An mà ông Nguyễn Thù cũng là Tiễn Sĩ, chắc rằng ông Trịnh Đường cũng phải là người có học thức và cũng có giữ chức tước của Triều đình Nhà Lê.
Các thế hệ tiếp theo thời kỳ nào cũng có người thành đạt. Thời kỳ Phong Kiến có 01 Cử nhân, 05 Tú tài Hán học, 01 Cao đẳng Pháp văn và đều làm quan chức thời đó như: Quan Đốc Trịnh Phán, Trịnh Thị và có phẩm hàm từ Cửu phẩm đến Ngũ Phẩm được Nhà Vua ban tặng; nhiều người là Lý, Hương, làm thầy dạy học… Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 phong trào học tập trong dòng họ được khuyến khích và phát triển rộng rãi, nhiều người đã thành danh trên tất cả các lĩnh vực.

13934871_2118898935002260_1539930873590834212_n

3. Về hoạt động xã hội: Họ Trịnh lạng Khê tham gia trên tất cả các lĩnh vực xã hội qua các thời kỳ, có hàng trăm cán bộ công chức, viên chức Nhà nước từ cơ sở đến TW, nhiều người dự các chức vụ quan trọng trong bộ máy Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội, các doanh nghiệp như: Thứ trưởng, Cục trưởng, Giám đốc Sở, Trưởng các phòng, ban, ngành…Một số người tham gia Cấp ủy Đảng từ Tỉnh ủy đến các xã, thị trấn…
Có nhiều cán bộ trung, cao cấp trong lực lượng vũ trang qua các thời kỳ; có 01 Giáo sư Tiến sĩ, 01 Phó Giáo sư Tiến sĩ, 04 Tiến Sĩ, 05 Thạc sĩ và hàng trăm người có trình độ Đại học, Cao đẳng…Mới đây Trịnh Thị Hồng Lựu được phong Nghệ Sĩ Nhân dân.

14051826_2118899035002250_1101803261187908544_n
* Từ những nét đặc trưng nêu trên chúng ta có thể rút ra bản chất của người Họ Trịnh Lạng Khê mấy đức tính đáng quý sau đây: Yêu nước, yêu quê hương, trung thực thẳng thắn, cần cù, chịu khó, hiếu học. Noi gương các các bậc tiền bối trong dòng Họ Trịnh Lạng Khê chúng ta cần phát huy các truyền thống tốt đẹp, không ngừng phấn đấu vươn lên, để đạt được nhiều tiến bộ hơn nữa trên các lĩnh vực, tỏ lòng biết ơn tiên tổ và các thế hệ đi trước, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước.
Bên canh đó chúng ta cần phải nhìn nhận một các sâu sắc, thấu đáo và quyết tâm khắc phục những nhược điểm nổi lên đó là:
Tính bảo thủ, chủ quan, cứng nhắc và thường dễ thỏa mãn; tính ghen tị, ích kỷ, hẹp hòi hay kích bác lẫn nhau dễ gây xích mích, mất đoàn kết. Những nhược điểm nêu trên không phải phổ biến ở tất cả mọi người trong dòng họ, nhưng đây đó vẫn còn xuất hiện ở một số người và chậm được khắc phục. Đó là những cản trở lớn đối với sự phát triển mọi mặt trong cuộc sống của bản thân dòng họ ta và cả cộng đồng.

* Các nhánh trong dòng tộc Họ Trịnh Lạng Khê.

Thế hệ thứ nhất:– Ông Trịnh Đường (Trịnh Bỉ).
Năm 1527 Mạc Đăng Dung giết Nhà Lê Cung Hoàng, tự xưng Hoàng Đế, Triều đình bị chia rẽ, một số đi theo Nhà Mạc, mội số gữ làng trung quân với Nhà Lê. Trong đó có ông Nguyễn Thù, đỗ Tiến sĩ làm quan đến chức Tả Phủ Phán (Tiền Lê) cùng với một số người họ Trương, họ Nguyễn Đình họ Trịnh và họ Đậu rủ nhau đi về phương nam để lánh nạn chờ thời cơ để phục hồi Nhà Lê. Đoàn của ông Nguyễn Thù đi từ Sơn Đông huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ đến xứ Lạng Lăng (Thường gọi là Bàu lăng). Dựa vào thế núi, thế sông và có vùng đất bằng nên đã chọn vùng đất này làm nơi định cư và lập nên làng Lạng Khê ( Nay là xóm Đông Thượng, xã Đồng Văn huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Vì vậy làng đã lập nên đền thờ ông Nguyên Thù tôn ông là Đức Thánh Hoàng). Có thể sau đó ông Nguyễn Thù đã hợp tác với ông Nguyên Cảnh Hoan là một Tướng giỏi của Chúa Trịnh để phò Vua Lê và ông Nguyễn Cảnh Hoan đã gả con gái cho ông Nguyễn Thù ( Có tài lệu cho rằng Nguyễn Cảnh Hoan còn có tên là Trịnh Mô do Chúa Trịnh ban cho)
Trong số người Họ Trịnh đi theo ông Nguyễn Thù thì chỉ còn lại ông Trịnh Đường (Trịnh Bỉ) còn những người khác thất truyền. Vì vậy ông Trịnh Đường là Thủy tổ của Họ Trịnh chúng ta tại Lạng Khê.
Thế hệ thứ 2:– Ông Trịnh Nghiễn.
Ông bà Trịnh Đường có thể sinh ra nhiều người nhưng chỉ còn lại ông Trịnh Nghiễn ( Vì Duệ hiệu của ông Trịnh Nghiễn là: Tiên tổ khảo Trịnh Quý công hiệu).
Ông Trịnh Nghiễn sinh được 04 người con ( 02 trai, 02 gái). Hai người con trai là: Trịnh Thạc và Trịnh Minh
Hai người con gái là: Trịnh Thị Do và Trịnh Thị Sửu.
Tương truyền do tranh chấp địa giới, đất đai…ông Trịnh Minh bị giết, ông Trịnh Thạc bị bắt, sau đó nhờ người Họ Trần đã cứu thoát. Vì vậy cho nên hàng năm vào ngày Tế Tổ Họ Trịnh chúng ta thường mời đại diện người Họ Trần Yên Thượng tới dự.
Sau khi thoát nạn ông Trịnh Thạc đã đi vào vùng Hoa Lâm ( Nay là xóm Yên Hạ xã Thanh Ngọc), vùng đất này thời bấy giờ đang rất hoang vu núi rừng rậm rạp chưa có người dân đến ở., ông đã lập trang trại làm ăn sinh sống một thời gian, sau nay quay lại vùng Đông Thượng. Hiện nay có Đền Trang Trịnh do nhân dân vùng Hoa Lâm ( Yên Xuân, Yên Hạ, Yên Thượng xã Thanh Ngọc) lập để thờ ông Trịnh Thạc ghi nhớ công ơn ông Trịnh Thạc đã khai phá lập trang trại và gây dựng nên làng mạc ở nơi đây và phát triển trù phú như bây giờ.
Thế hệ thứ 3: Ông: Trịnh Thạc là con của ông Trịnh Nghiễn, ông Thạc còn có tên là: Thủy sinh vào khoảng năm 1600 có Minh hiệu là: Tiền chi thụ, phó quản lĩnh, kiêm đội trưởng, Trịnh Thọ Bá, Trịnh Quý Công, tự thiên tính, thị hoài, tổng phủ quân. Ông Trịnh Thạc mất này 29 tháng Giêng, mộ táng tại Đồng cựa sau năm 1945 cất bốc vào Đại Vường ( Vùng mộ Tổ).
Vợ ông Trịnh Thạc người Họ Nguyễn, làng Nhuận Ngọc ( Ngọc Nuông), mất ngày 30/12 Âm lịch, mộ táng tại vung Núi Ngược. Ông bà Trịnh Thạc sinh hạ được 06 người con trai song chỉ còn lại 02 người là: ông Trịnh Chào và Trịnh Khệ.
2/ Ông: Trịnh Minh. (Ông mất năm nào và phần mộ ở đâu không rõ, nhưng lý do chết như nêu ở phần trên)
Thế hệ thứ 4: 1/ Ông Trịnh Chào: Có Minh hiệu là: Tiền xã Trịnh Quý Công tự phổ Tam thị cương nghi Phu quân. Ông mất ngày 05/10 Âm lịch, mộ táng tại Thạch Sơn ( Khu vực Đền ông Nến)
Vợ ông không rõ họ, tên là người ở Thạch Sơn, bà mất ngày 23/6 Âm lịch, mộ táng tại Đồng Cựa, sau năm 1945 cất bốc vào Đại Vường ( Khu vực mộ Tổ)
Ông bà Trịnh Chào sinh được 04 trai, 02 gái song chỉ còn lại 02 trai là:
– Trịnh Đương Hiển và Trịnh Đương Đạt cò lại đều vô tự hoặc thất truyền.
2/ Trịnh Khệ: là con út của ông Trịnh Thạc, ông Trịnh Khệ còn có tên gọi là Trịnh Đương Long, ông mất ngày 20/12 Âm lịch, mộ táng tại Thạch Sơn ( Khu vực Đền ông Nến) Ông bà sinh được.
Từ đây con cháy ông Trịnh Đương Hiển thuộc về Chi trưởng, con cháu ông Trịnh Đương Đạt thuộc về Chi Trung, con cháu ông Trịnh Đương Khệ thuộc về Chi út ( Quý chi)
Thế hệ thứ 5: Từ thế hệ thứ 5 trở đi con cháu phát triển khá đông đúc và hình thành ra các Chi và các Tiểu chi cho đến ngày nay.
* CHI TRƯỞNG, gồm có 04 Tiểu chi như sau:
– Tiểu chi 1: Tộc Trưởng là: Trịnh Văn Tăng, nguyên là cán bộ Ban Tuyên giáo, Huyện ủy Đô Lương nghỉ hưu. Ông Tăng đã mất nay con trai Trịnh Văn Tuấn làm trưởng tiểu chi và cũng là Tộc Trưởng của Họ Trịnh Lạng Khê. Chi 1 cư trú và có Nhà thờ tại xã Thanh Hưng, huyện Thanh Chương.
– Tiểu chi 2: Tộc Trưởng là: Trịnh Văn Uy, ông đã mất nay con trai là Trịnh Văn Tùng làm Trưởng Tiểu Chi, cư trú tại (Trung Đồng), nay thuộc Thị trấn Dùng.
– Tiểu chi 3: Tộc trưởng là: Ông Trịnh Vân, ông đã mất nay con trai là Trịnh Chương. Chi này cư trú tại ( Thanh Đồng) nay là Thị Trấn Dùng.
– Tiểu chi 4: Tộc trưởng là: Trịnh Sơn, cư trú tại Thị Trấn Dùng (Xóm ổi ngày xưa).
* CHI TRUNG, gồm có 7 Tiểu chi:
– Tiểu chi 1: Tộc trưởng là: Ông Trịnh Văn Niệm cư trú tại xóm Đông Thượng xã Đồng Văn.
– Tiểu chi 2: Tộc trưởng là: Ông Trịnh Văn Ngơm, cư trú tại xóm Trung Đồng nay thuộc Thị Trấn Dùng.
– Tiểu chi 3: Tộc trưởng là: Ông Trịnh Văn Thao, nay con là Trịnh Văn Thành, cư trú tại xóm Trung Đồng nay thuộc Thị Trấn Dùng.
– Tiểu chi 4: Tộc trưởng là: Ông Trịnh Trung Khang, cư trú tại xóm Đông Thượng xã Đồng Văn.
– Tiểu chi 5: Tộc trưởng là: Ông Trịnh Văn Minh, cư trú tại xóm Đông Thượng xã Đồng Văn.
– Tiểu chi 6: Tộc trưởng là: Ông Trịnh Văn Hải, cư trú tại xóm Thượng Quánh xã Đồng Văn.
– Tiểu chi 7: Tộc trưởng là: Trịnh Bá Chuyên nay chuyển cho Trịnh Anh Đào cư trú tại xóm Đông Thượng xã Đồng Văn.
* QUÝ CHI, gồm có 6 Tiểu chi:
– Tiểu chi 1: Tộc trưởng là: Ông Trịnh Đương Khóa, nay là Trịnh Thắng, nay cư trú tại xã Thanh Chi.
– Tiểu chi 2: Tộc trưởng là: Ông Trịnh Điều nay là Trịnh Tăng, cư trú tại Đội 7 xã Thanh Ngọc.
– Tiểu chi 3: Tộc trưởng là: Ông Trịnh Canh nay là Trịnh Văn Ngân cư trú tại xóm Yên Mỹ nay thuộc Thị Trấn Dùng.
– Tiểu chi 4: Tộc trưởng là: Ông Trịnh Đương Hóa nay là Trịnh Văn Nhâm cư trú tại xóm Đông Thượng xã Đồng Văn.
– Tiểu chi 5: Tộc trưởng là: Ông Trịnh Văn Uyển ( cư trú tại Vinh) Nhà thờ tại Đội 7 xã Thanh Ngọc.
– Tiểu chi 6: Tộc trưởng là: ông Trịnh Đương Huân, nay là Trịnh Khôi, cư trú tại xóm Luân Phượng xã Đồng Văn.
Tổng có 17 chi
BAN TRUYỀN THÔNG TUỔI TRẺ TRỊNH TỘC

Share.

About Author

Leave A Reply