CẢI CÁCH TÀI CHÍNH CỦA CHÚA TRỊNH CƯƠNG (1716 – 1729) GS. Văn Tạo (Viện Sử học Việt Nam)

0

CẢI CÁCH TÀI CHÍNH CỦA CHÚA TRỊNH CƯƠNG (1716 – 1729)

GS. Văn Tạo (Viện Sử học Việt Nam)

Trong lịch sử cổ – trung đại Việt Nam có nhiều cuộc cải cách, đổi mới, nhưng “cải cách tài chính” thì chỉ có một là cải cách của chúa Trịnh Cương (1716 – 1729).

Trịnh Cương lên ngôi Chúa năm 1709 (sau khi Chúa Trịnh Căn mất). Vừa lên ngôi, ông đã quan tâm ngay tới việc “đổi mới” trong quản lý nhà nước về tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội như trong Lịch triều tạp kỷ của Ngô Cao Lãng đã viết “Bấy giờ mọi việc chính sự phần nhiều mở mang thay đổi”. Riêng về “đổi mới trong kinh tế – tài chính” Chúa Trịnh Cương đã lấy cải cách tài chính làm trọng tâm, thực hiện từ tháng 6 năm Bính Thân (1716) khi “bắt đầu chia đều thuế khóa và tạp dịch”.

Trịnh Cương kế ngôi Chúa khi đất nước vừa mới được hưu chiến, hậu quả chiến trang còn nặng nề. Gần 150 năm (1527 – 1627), nội chiến (Đàng Trong – Đàng Ngoài) đã làm nền nông nghiệp bị sa sút, đê điều ít tu bổ, thiên tai hạn hán, lũ lụt, sâu bệnh phá hoại mùa màng luôn xảy ra, đói khổ triền miên, nông dân phiêu tán…

Sử cũ chép “Từ năm 1703 – 1707, tai họa, hạn hán và đói kém xảy ra, nhân dân phần nhiều phiêu tán, triều đình đã nhiều lần thi hành lệnh ấn xá rộng rãi, nhưng nhân dân các làng xóm vẫn chưa trở về đông đủ…”. “Trước đây (1711), việc đốc thúc dân đắp đê, giao quyền cho viên quan ở trấn, phần nhiều chỉ làm cẩu thả cho xong việc, nên mỗi năm đến mùa nước lớn, đê lại vỡ lở, dân vùng ven sông luôn luôn tai hại…”.

Năm 1712, từ tháng 6 đến tháng 12 trời không mưa dân bị đói to.

Năm 1713, “Tháng riêng, mùa xuân… giá thóc gạo cao vọt, chết đói đầy đường”

Tháng 7, mùa thu lại “Mưa dầm dề không ngớt, nước các sông tràn ngập, vỡ đê các trấn Sơn Tây, Sơn Nam, Thanh Hoa, mấy vạn nhà bị nước cuốn đi mất, nhân dân bị đói…”.

Sau khi lên ngôi Chúa, năm 1709 Trịnh Cương đã thực hiện ngay một số “biến pháp” nhằm “đổi mới xã hội”, ổn định tình hình, cụ thể:

  1. Kỷ cương, phép nước không được tôn trọng, đã “ban hành 6 giáo điều”.
  2. Việc tu bổ đê điều bị trễ nải, “đã sai quan trong kinh đi đôn đốc việc đắp đê”.
  3. Việc thi cử không được nghiêm, đã bắt đầu “chỉnh đốn lại thể thức văn bài trong khoa thi Hương”.
  4. Việc trị nhậm của các quan chức các tỉnh biên cương bị trễ nải, đã “hạ lệnh cho các quan trấn thủ ở biên giới phải đến đóng trấn, ti”.
  5. Ngục tù đầy chật phạm nhân, đã phải “tha các tù tội nhẹ đang bị giam giữ”.
  6. Thuế má không tận thu vì dân thiếu đói, đã “hoãn thu các thứ thuế bị bỏ thiếu đã lâu”, “giảm một nửa thuế tuần ti và bến đò”.
  7. Phu sai tạp dịch quá nhiều, đã phải “đình hoãn việc bắt phu làm việc”…
  8. Đói kém triền miên, đã “phát chẩn và cấp đỡ cho dân”.
  9. Thưởng, phạt chưa công minh, đã “định lệ cứ 3 năm khảo công một lần để định việc thưởng phạt”.
  10. Việc bang giao với Trung Quốc còn có nhiều phiền hà, đã “liệu lượng giảm bớt”…

Đặc biệt có hai “biến pháp” lớn trong quản lý kinh tế biểu hiện yêu cầu giải quyết mâu thuẫn trong quan hệ sản xuất – mâu thuẫn giữa công hữu mà Nhà nước vẫn phải dựa vào, với xu thế tư hữu hóa ruộng đất ngày càng tăng:

  1. Định lại thể lệ quân cấp đất công.

Niên hạn quân cấp cứ 6 năm một lần,… “Người được hưởng phần ruộng, tư quan viên đến người quan, quả, cô, độc và phế tật đều được tùy theo suất số mà liệu lượng cấp cho phần ruộng. Người nào đã có dân lộc, điền lộc hoặc ruộng của mình hoặc ruộng của vợ ngang với số khẩu phần quân cấp thì không được dự phần cấp nữa. Những ruộng ẩn lậu còn ở ngoài sổ điền vẫn được miễn thuế, cũng đem quân cấp cho dân. Ruộng công đất bãi không được phép mua bán…”.

Nếu chỉ như vậy thì dường như tính bình quân công xã tàn dư của phương thức sản xuất châu Á vẫn được duy trì, nhưng vẫn phải nhìn tới những điều khoản khác thể hiện xu thế tăng cường tích tụ ruộng đất:

“Thuộc viên ở các nha môn và binh lính tuy có ngụ lộc và điền lộc rồi vẫn có thể được cấp ruộng khẩu phần chứ không bị xếp vào loại thôi cấp” (tức phần ruộng được cấp tăng khiến sản phẩm thặng dư trở thành nông phẩm hàng hóa có tăng).

“Các viên chức có phẩm hàm dù là tỏng cửu phẩm – tức hàm thấp nhất, đều được cấp từ 9 phần trở lên. Cứ phẩm hàm cao hơn một bậc thì được tăng nửa phần ruộng. Viên chức chưa có phẩm hàm được cấp 8 phần rưỡi trở xuống cho đến 4 phần rưỡi (trong khi dân binh bình thường chỉ được 3 – 4 phần)”.

Như vậy là ưu đãi giới viên chức, quan liêu, tăng thêm số phần ruộng công đã được chia cho quan lại và binh lính. Đó là sự tấn công thêm một bước vào diện tích đất công còn lại để chia cho dân.

Đồng thời lại cho phép khi có việc “do quan dịch nặng nề, bức bách” không thể có cách gì cứu vãn được thì cho phép bán ruộng công khẩu phần…, tức mở rộng cửa cho sự tấn công của chế độ sở hữu tư nhân vào ruộng đất công.

b, Cấm quan viên thiện tiện lập trang trại, khuyến khích phiêu tán khẩn hoang:

Những nhà quyền quý thế hào, phần nhiều nhận ruộng đất của mình ở đâu thiện tiện lập trang trại ở đấy, rồi chiêu tập người trốn tránh, cho họ nấp bóng để vơ vét mối lợi, vì thế mà dân đã nhiều người phiêu tán… Nay nghiêm cấm, người nào trái lệnh sẽ bị tội nặng. Những người phiêu lưu trú ngụ ở xã khác, khai khẩn nhờ vào đất hoang xã ấy, hiện đã dựng thành cơ nghiệp, thì chỗ đất khai khẩn ấy xét định cho làm thổ, để họ được yên nghiệp sinh nhai”[1].

Nghiêm cấm bọn lấn chiếm trái phép để thu hồi ruộng công nhưng lại cho dân phiêu lưu trú ngụ khẩn hoang, cho làm thổ, đó cũng là một biện pháp tăng cường tư hữu nhỏ trong nông dân.

Cả hai “biến pháp” trên đều nhằm đưa thuận lợi cho sự phát triển tư hữu và kinh tế hàng hóa – tiền tệ.

Sau 7 năm thi hành các “biến pháp” mới kể trên (1709 – 1716) nhằm tạm thời ổn định tình hình, năm 1716 Trịnh Cương mới tiến hành cải cách tài chính.

Nội dung cải cách gồm:

1- Xóa bỏ phép “bình lệ”

“Phép này thi hành đã 50 năm. Theo phép “bình lệ”, số người đến tuổi ghi tên vào sổ cũng không tính, số người hao hụt đi cũng không miễn trừ. Trong thời gian ấy số hộ khẩu ở dân hoặc thâm ra, hoặc hụt đi không nhất định, mà nguyên ngạch vẫn theo như cũ…” Nay, làm lại sổ hộ, bỏ tên người đã chết, thêm người đến tuổi ghi vào sổ để chịu thuế.

2 – Định phép chia đều thuế khóa và tạp dịch cho cả đinh và điền:

Xưa theo phép “bình lệ”, thuế khóa và tạp dịch chuyên trách cứ dân đinh phải chịu, phần nhiều đem việc gánh vác nặng đổ dòn vào một bên… vì thế mà dân đinh phải gánh vác quá nặng, rồi dần dà đi đến lưu tán. Nay “dùng dùng khoa điều để phân phối cho đinh và điền cùng chịu. Phàm có công việc hoặc đóng góp thì nhân đinh và điền mẫu mỗi bên đều phải chịu một phần, để cho việc thuế khóa, lực dịch được đều nhau”.

3 – Đánh thuế ruộng tư:

Di sản lịch sử để lại là, từ Lê sơ, do ưu đãi tầng lớp địa chủ quan liêu và nhằm phát triển chế độ tư hữu ruộng đất nên Nhà nước đã miễn thuế ruộng tư. Hơn nữa, trong quan niệm của nhà nước quân chủ phong kiến thì ruộng tư không phải là loại hình sở hữu chính thống. Tài chính quốc gia phải trông vào thuế ruộng công làng xã. Nay công điền này càng bị thu hẹp, tư điền ngày càng phát triển, thuế ruộng công không đủ chi tiêu, Nhà nước phải đánh thuế cả ruộng công và ruộng tư. Hơn nữa để như vậy thì bất công xã hội diễn ra ngày càng trầm trọng, như tác giả Lịch triều tạp kỷ viết: “Hồi gần đây, chỉ có ruộng công phải chịu thuế, rồi lâu dần ruộng tư lọt hết vào nhà hào phú đến nỗi người nghèo ở xóm làng đều không có đất cắm dùi mà lại riêng chịu lao dịch”.

Chúa Trịnh Cương hạ lệnh: “Nay ruộng trong nước không kể ruộng công hay tư, đều thi hành việc khám xét đo đạc, rồi liệu lượng chia bổ ngạch thuế, để cho người giàu, người nghèo giúp đỡ lẫn nhau, nặng nhẹ gánh vác đều nhau, định làm phép thường hành mãi mãi…”

Trong thi hành, thuế ruộng tư bao giờ cũng nhẹ hơn thuế ruộng công, vì với công điền thì “Tô và thuế nhập làm một”. Ruộng tư chỉ chịu thuế mà không chịu tô. Nhà nước lại miễn thuế ruộng tư cho các quan lại theo thứ bậc và phẩm trật: “Nhất, nhị phẩm được miễn 25 mẫu… từ tam phẩm đến cửu phẩm cứ theo phẩm trật mà bớt dần mỗi trật 5 mẫu”. Điều đó khuyến khích quan lại mua rậu ruộng tư… tất cả đã tạo điều kiện cho tư hữu phát triển.

4 – Thu thuế khai thác và tiêu thụ đồng, quế và muối:

Việc này nhiều nước trên thế giới đã làm từ sớm. Chúa Trịnh Cương đã tích cực khắc phục sự chậm trễ này. Sử chép:

“Trước đây, các sản vật: vỏ quế, muối và đồng, dân gian không được phép bán riêng. Năm 1715 đình hoãn việc cấm này”.

Nay, năm 1720 “ Nguyễn Công Hãng (đại thần Triều Lê – Trịnh) bàn rằng, đồng và quế là sản vật rất cần thiết của quốc gia. Lệ cũ vẫn cho phép dân được tự do mua bán với nhau, như vậy chỉ lợi cho thương nhân, chứ không ích gì cho phần quốc dụng. Họ bèn quy định phép đánh thuế, xin đặt quan giám đương trông coi về đồng và quế. Phàm một hộ nào đi buôn đồng hoặc bóc vỏ quế thì phải được cấp giấy tờ làm bằng chứng. Khi quay về phải xuất giấy tờ ấy để khám nghiệm. Nếu mua bán với các thương khách ngoại quốc thì phải đợi lệnh chỉ rồi sau mới được cấp phát giấy tờ. Nếu mua bán ở trong nước thì phải nộp tờ giao khế ở quan giám đương để làm bằng. Phàm sự chuyên chở lén lút và làm vụng trộm đều bị nghiêm cấm”.

Năm 1721, bắt đầu đánh thuế muối, theo thể lệ: “Đặt chức giám đương để trông coi. Phàm dân miền biển người nào nấu muối gọi là “táo đinh”, người nào buôn muối gọi là “diêm hộ” đều được miễn thuế khóa và giao dịch. Số muốn đã nấu ra sẽ liệu lượng đánh thuế 2/10 làm muối công. Người “diêm hộ” phải có chứng chỉ của viên giám đương mới được vào trường xưởng mua muối; trước mua muối công, sau mới đến muối của “táo đinh”. Việc mua hay bán đều phải có giấy tờ làm bằng chứng”.

5 – Giảm bớt viên chức để giảm chi lương bổng:

Năm 1721, Chúa Trịnh Cương đưa ra quan điểm: “Muốn cho công việc được chỉnh đốn, không phải ở chỗ đặt nhiều chức quan” và lệnh chỉ “ Nay dân ở biên giới bị phiêu tán, làng xóm tiêu điều, nếu không bớt số viên chức đi thì sự cung cấp về bổng lộc, sự phiền nhiễu về đưa đón, làm thế nào đủ được?. Vậy các quan ở trong hai ti Thừa Chính, Hiến sát và phủ huyện ở các trấn Cao Bằng, Tuyên Quang, Hưng Hóa và Lạng Sơn đều tạm bớt đi, công việc của các viên quan ấy giao cả cho Ti trấn thủ nhận giữ”.

6 – Thi hành phép đánh thuế tô, dung, điệu:

Năm 1721, Chúa Trịnh Cương đã đưa ra xem xét để thi hành phéo đánh thuế tô, dung, điệu: “Ta thấy chế độ các đời trước thu lấy của cải ở dân thường không giống nhau, nhưng chỉ có ba thứ thuế: tô, dung và điều là đúng hơn cả. Nay về tô ruộng và sổ đinh đương bàn luận để định cách thay đổi, thì về phần thuế điệu dịch cũng nên thương lượng để thi hành một thể. Ngoài ba thứ thuế ấy ra, những giao dịch khác và thuế khóa vụn vặt, nhất luật đều ngừng lại hoặc bớt đi”.

Đồng thời chúa Trịnh Cương đưa ra một luận điểm mới về tài chính khá sắc sảo: “Đờ cổ, định sự chi dùng trong nước thì cân nhắc số thu vào để trù tính số chi ra, nhưng bây giờ nên trước hết tính số chi ra, rồi sau sẽ định số cho dân phải nộp. Các ông đều nên suy xét cho chín rồi trình bày từng điều mục, để theo thứ tự thi hành”. ( Nền tảng quan điểm của chính sách tài khóa hiện nay).

Đây là tư tưởng có tính chỉ đạo đáng trân trọng vì không máy móc theo “người xưa”. Nó thể hiện lòng mong muốn “đổi mới”, nhưng “lực bất tòng tâm”, còn quần thần thì tư duy kinh tế hạn hẹp và máy móc, giáo điều. Bản thân Trịnh Cương thì chỉ vật lộn với khủng hoảng được mấy năm nữa đã quan đời (1729). Hoài bão của ông không được thực hiện trọn vẹn.

Năm 1723, Chúa Trịnh Cương đã thấy tình hình thuế khóa khá bức bách cần đẩy mạnh cải cách, khi phê phán: “… Phép đặt lâu ngày, sinh ra tệ hại, thuế ngoại ngạch linh tinh và khoa điều sai phái nặng gấp hai thuế chính cung, thành ra dân chúng mỗi ngày cùng quẫn, người bỏ trốn, thiếu thuế ngày một nhiều”.

Cuối cùng đi đến quyết định thi hành phép đánh thuế: Tô, dung, điệu:

a, Phép tô:

Theo chế độ cũ thì ruộng công mỗi mẫu đồng niên nộp tiền có nhiều ít khác nhau: từ hạng nộp 1 quan đến hạng nộp 8 tiền, 6 tiền.

Nay ấn định ruộng công mỗi mẫu nộp 8 tiền. Số 8 tiền này chia làm 3 phần. Hạng ruộng hai mùa (nhị thục điền) nộp 2/3 bằng thóc (1/3 bằng tiền); hạng ruộng một mùa (nhất thục điền) nộp 1/3 bằng thóc (2/3 bằng tiền). Đất bãi công theo chỗ hiện cày cấy được chia làm hai bậc, mỗi mẫu nộp 1 quan 2 tiền. Đất nào có trồng dâu thì thuế tô bãi ấy một nửa nộp bằng tơ (tức 6 tiền nộp bằng tiền, 6 tiền nữa tính trị giá tơ mà nộp bằng tơ), bãi nào không trồng dâu thì nộp thau bằng tiền.

Ruộng tư trước không đánh thuế. Nay định ruộng tư chia hạng hai mùa và hạng một mùa nộp thuế khác nhau. Ruộng hai mùa mỗi mẫu nộp 3 tiền, ruộng một mùa mỗi mẫu nộp 2 tiền.

Cái mới sau cải cách là:

– Ruộng tư trước không phải nộp thuế nay cũng phải chịu thuế, nhưng rất nhẹ so với ruộng công: 2 và 3 tiền/mẫu đối với ruộng tư so với 8 tiền/mẫu đối với ruộng công.

– Nhất loạt đánh thuế 1 mẫu là 8 tiền, trong đó sự phân biệt giữa ruộng loại một mùa và loại hai mùa chỉ là ở chỗ: một mùa phải nộp 1/3 bằng thóc, còn hai mùa phải nộp 2/3 bằng thóc. Còn ruộng trồng dâu phải nộp ½ (tức 6 tiền) bằng tơ. Như vậy, thuế hiện vật vẫn ưu tiên, thuế mới đến thuế bằng tiền. Điều đó chứng tỏ kinh tế tiền tệ vẫn chưa phát triển mạnh. Thuế hiện vật vẫn được coi trọng.

b, Phép dung

Theo chế độ cũ, thuế thân, mỗi xuất đinh đồng niên tùy theo từng hạng để nộp tiền, từ 1 quan đến 1 quan 8 tiền. Nay định mỗi xuất đinh nộp 1 quan 2 tiền. Sinh đồ, lão hạng (50 tuổi) và hoàng đinh (từ 17 đến 19 tuổi) nộp ½ số tiền thuế ấy.

Như vậy, không được giảm nhẹ là bao mà lại đánh thuế cả lão hạng, hoàng đinh (chịu ½ so với chính đinh) là nặng hơn trước chỉ chính đinh mới phải đóng.

c, phép điệu.

Theo chế độ cũ, hàng năm các việc bài, biểu, từ tự, điện, miếu, đê điều, cầu cống, kho tàng và trường thi… đều tính theo suất đinh để tùy tiện chia nhau đóng góp để nộp, phần nhiều thu quá lệ ngạch, vả lại thằng khúc, bắt bớ lung tung, dân không sao chịu được sự phiền nhiễu.

Nay định mỗi xuất đinh, mùa Hạ và mùa Đông nộp 6 tiền; quan trên dùng tiền ấy đóng góp thay cho dân, gọi là tiền thuế điệu.

Thuế này có cải thiện cho dân về việc tránh tùy tiện bắt bớ đóng góp và dễ gây phiền hà “thằng khúc, bắt bớ, hối lộ…”, nhưng lại không tùy nhu cầu để thu mà là thu nhất loạt hại cho dân, lợi cho ngân khố triều đình, dễ gây tham nhũng cho bọn quan lại, khi họ được “dùng tiền ấy đóng góp thay cho dân”.

Ngoài ra lại còn “định tiền thuế dung, thuế điệu ở cửa đình và giáo phường” (tức thuế đánh bằng tiền để dùng vào việc chi phát cho các nhạc công trong giáo phường…).

Cái mới do vận dụng pháp tô, dung, điệu đem lại là tránh được tùy tiện, sách nhiễu nông dân trong việc thu thuế nặng và chống được “thất thu”.

7 – Đặt thêm sở tuần ti ở các trấn để tận thu thuế thương nghiệp:

Năm 1723, ở “nội trấn và ngoại trấn đều đặt thêm một sở tuần ti. Phàm người buôn bán qua lại tùy theo thuyền bè lớn hay nhỏ, chở hàng nặng hay nhẹ để liệu lượng đánh thuế 1/40 so với hàng hóa đã chở (trước đã có các tuần ti: Ngã Ngung ở Thanh Hoa, Khả Lưu ở Nghệ An, Trình Xá ở Sơn Tây, Cầu Dinh ở Kinh Bắc, Quán Tuần ở Hưng Hóa, Tam Kỳ ở Tuyên Quang, Thành Tuần ở Lạng Sơn, Suất Tuần ở Yên Quảng và 2 tuần ti ở Cao Bằng và Thái Nguyên. Còn một số tuần ti nữa như ở Hải Dương, Sơn Nam bỏ sót chưa ghi. Nay đặt thêm ở cả các nội trấn và ngoại trấn, mỗi tấn một sổ tuần ti nữa. Về việc thu thuế “Các thuyền bè buôn bán qua lại cho phép liệu lượng lấy tiền thuế nhiều ít khác nhau: hạng chở nặng đầy những hàng hóa, gọi là trọng thuyền, mỗi chiếc đánh thuế một tiền; hạng chở ít hàng hóa là khinh thuyền, mỗi chiếc đánh thuế 6 đồng… Bè hạng từ 80 thước trở lên là bè to, mỗi bè đánh thuế 5 tiền; từ 40 thước trở lên là bè vừa, mỗi bè đánh thuế 3 tiền, còn thì là bè nhỏ, mỗi bè đánh thuế 2 tiền”.

Như vậy là thực hiện nghiêm ngặt, chặt chẽ việc thu thuế thương nghiệp, tận thu được loại thuế này nhưng cũng có thể làm cản trở, thui chột một số hoạt động thương nghiệp mới trên đà khởi sắc.

  1. Thu thuế các loại tổ sản khác, ngoài quế, đồng và muối (đã nói):

Năm 1720, 1721 đã đánh thuế quế, đồng, muối, thì năm 1724 sau khi định xong thuế tô, thuế dung, “còn các thổ sản thì tùy theo thổ nghi của từng nơi, định giá để đánh thuế, sẽ chuẩn trừ cho thuế tô, thuế dung có thứ nhiều, thứ ít khác nhau”.

(Thổ sản: theo Quốc dụng chí trong Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú gồm các loại: thuộc về kim loại như: Bạc, đồng, sắt và chì; loại mộc như gỗ tứ thiết, gỗ hồng sắc; loài thủy như cá và nước mắm; loài hỏa như than gỗ, than đá; loại thổ như sơn và diêm tiêu. Đồ ăn thức dùng như rượu, mật, dầu và sơn. Thập vật như các hạng giấy và chiếu trơn).

9 – Thu thuế đất ở đô thị

Năm 1724, định lệ Các hạng thổ ở phố, mỗi thước phải nộp tiền 10 đồng. Nếu đánh thuế 10 đồng tiền một thước là quá nặng… Ngô Cao Lãnh ghi có khác: “Các hạng đất ở và các hạng dân đinh ở phường phố mỗi người mỗi năm đóng 10 đồng tiền thập văn”. Dầu theo cách nào thì việc đánh thuế đất ở phố phường là một định lệ mới, biểu hiện kinh tế hàng hóa – tiền tệ phát triển cho nên đất đô thị mới được đánh thuế cao hơn thuế ruộng…

10 – Định ra các thể lệ giảm, miễn thuế:

Miễn, giảm tô, thuế là một biện pháp không thể thiếu được trong cải cách tài chính khi nông dân còn đói khổ, thuế khóa lại nặng nề. Biện pháp này có thể làm dịu bớt sự chống đối của nông dân:

  1. Giảm tô và thuế cho dân Thanh Hóa, Nghệ An và dân trong kinh kỳ:

“ Thanh Hóa là nơi thang mộc (nơi phát tích của nhà Lê, Trịnh), Nghệ An là dân hưởng ứng theo việc nghĩa. Kinh kỳ liền sát dưới xa giá của vua chúa. Nhưng nơi này phàm tô và thuế đều được rộng cho giảm nhẹ: ở Thanh và Nghệ, duy tiền thuế đều là theo thể lệ tứ trấn, tô ruộng được giảm một nửa, thuế thân dung được miễn hết; ở Kinh kỳ thuế tô, thuế dung và thuế điệu đều liệu lượng giảm bớt có khác với tứ trấn”.

Việc giảm này là không công bằng (vì chỉ thực hiện ở một số địa phương) nhưng là cần cho sự an ninh của vương triều và, dầu sao thì cũng đỡ được gánh nặng cho một số nông dân.

  1. Tha thuế khi có thiên tai, hạn hán.

Tháng 12 năm Giáp Thìn (1724)…, vì đã lâu không mưa, Chúa Trịnh Cương hạ lệnh đình chỉ việc xây dựng, tha thuế bỏ thiếu cho các xứ; dân xã nào còn thiếu thuế vụ Đông năm Tân Sửu và vụ Hạ năm Nhâm Dần, trước kia đã từng định kỳ hạn phải nộp mà chưa thể nộp được, nay nhất luật đều được tha”.

Đây cũng chỉ là tha những thuế nợ đã lâu từ hai, ba năm trước chưa đóng, còn những năm sau thì không tha.

  1. Giảm nhẹ phú thuế cho trấn Cao Bằng:

Năm 1726, “… Ở Cao Bằng, thuế khóa và giao dịch phiền phức, nặng nề, đã nhiều lần bày tôi phiên trấn bày tỏ sự đau khổ chồng chất của dân. Do đấy, Triều đình hạ lệnh giảm bớt các sở tuần ti và các thuế phụ, như đánh thuế vào đầu trâu, thuế nộp hồng quả và vải thổ”.

  1. Bỏ thứ thuế ngoài lệ ngạch:

Năm 1727, theo Sử chép: “… Thuế tô, dung và điệu đã có ngạch nhất định mà người thừa hành vẫn sách nhiễu theo thói cũ, tệ hại không thể kể xiết”. Trịnh Cương hạ lệnh: “Các hạng thuế ngoài lệ ngạch và các thổ sảng đã đánh giá chuẩn cho nộp tiền thuế dung rồi, này nhất luật tha cho; duy thuế tô, dung và điệu vẫn phải nộp tiền theo thể lệ”.

Nhìn chung, trong cải cách, thuế khóa tuy có được cải tiến cách thu bổ, đạt được doanh thu cao, cải thiện được tình hình khó khăn về tài chính cho Nhà nước, những vẫn còn nặng nề, nhiều khó khăn chưa giải quyết kịp, do cuộc khủng hoảng trước đó quá lớn, các giải pháp trên chỉ là tình thế, chưa giải quyết triệt để mâu thuẫn cơ bản của xã hội.

Ngoài cải cách tài chính, Trịnh Cương còn thực hiện hàng loạt biện pháp khác để hỗ trợ cho cải cách, như:

Năm 1718, định rõ lệnh cấm uống rượu. Định pháp khảo công đối với viên quan ở trấn, ty để thi hành việc giáng truất hoặc cất nhắc.

Năm 1720, khảo sát công trạng 10 năm của các quan văn, võ; ban bố 10 giáo điều (trước đã ban bố 6 giáo điều).

Năm 1722, hạ lệnh cho quan Trịnh Quán giải tán binh quyền vì “các thân thuộc họ Trịnh giữ binh quyền trọng đại quá e sẽ sinh biến”.

Năm 1725, sai làm các việc khuyến nông. Hạ lệnh cho nhân dân được phép ca tụng việc tốt hoặc chê bai việc xấu của các viên quan cai trị dân.

Các việc này có tác động tốt tới cải cách đồng thời cũng nhận được ảnh hưởng tích cực từ cải cách.

          THÀNH QUẢ CỦA CẢI CÁCH

Cải cách tài chính của chúa Trịnh Cương trong “đổi mới” nói chung đã đem lại một số thành quả là:

Tạm thời giải quyết được khó khăn về tài chính, ổn định được tình hình, củng cố được kỷ cương, trật tự xã hội sau hơn 100 năm nội chiến liên miên.

Giảm bớt được nạn đói khổ của nông dân (có năm được mùa “phong đăng hỏa cốc” mà Trịnh Cương đã làm bài thơ Phong niên vịnh).

Tăng cường thêm một bước phát triển xã hội theo xu thế thời đại là: thúc đẩy xu hướng tư hữu hóa ruộng đất, phát triển kinh tế hàng hóa – tiền tệ.

Về mặt ngoại giao, giúp cho Đại Việt có tư thế để giữ vững được bang giao bình thường với các nước láng giềng. Với Lào giữ được quan hệ thân thiện, không xảy ra đụng độ. Với Trung Quốc, do Đại Việt vững vàng lên, nên được Nhà Thanh vị nể: Năm 1725, vua Khang Hy nhà Thanh đã phải miễn tuế cống ngà voi, tê giác. Còn lễ cống vàng bạc thì chỉ cần giao ở Quảng Tây không phải đưa tới Yên Kinh…; Sứ thần Thanh đã phải thừa nhận sự ổn định và phát triển của Đại Việt. Năm 1719, đoàn sứ thần Đại Việt do Nguyễn Công Hãng dẫn đầu sang Đại Thanh do khôn khéo giao thiệp khiến vua Thanh đã bỏ lệ cống người, vàng và nước giếng Loa Thành. Năm 1726, Vua Thanh đã gửi tặng qua Sứ bộ Đại Việt ba bộ sách quý là: Bội văn vận phủ, Uyên Giám loại hàm, Cổ văn uyên giám.

Thắng lợi đặc biệt là đòi lại được đất đai và mỏ đồng Tụ Long đã bị Trung Quốc chiếm.

Nhìn chung lại, cải cách tài chính của chúa Trịnh Cương là rất mới trong lịch sử Đại Việt vì đã nắm bắt được khâu chính trong phát triển kinh tế – xã hội là tài chính.

Về tư duy cải cách, tuy nhìn chung là còn nệ cố, ít sáng tạo, nhưng cũng đã có cái mới, dũng cảm dám nghĩ, dám làm, hòng cứu vãn tình thế suy sụp về tài chính khi chưa giải quyết được khủng hoảng.

Trong buổi giao thời giữa thời đại phong kiến và thời đại tư bản chủ nghĩa trên thế giới lúc này, tuy chủ nghĩa tư bản ở Đại Việt mới đang manh nha nhưng tác động quốc tế đã đưa lại những yếu tố mới, kinh tế hàng hóa – tiền tệ đã có ảnh hưởng đến tư duy chính trị. Cải cách tài chính của Trịnh Cương đóng vai trò như một trong những bước khai phá cho xã hội Đại Việt tiến vào thời đại mới của nhân loại.

Do đó, nhìn vào thành quả cụ thể của cải cách thì còn hạn chế và còn hàm chứa những mâu thuẫn, nhưng nhìn vào ý nghĩa lịch sử của cải cách lại thấy là quý giá và kinh nghiệm lịch sử của cải cách là rất đáng trân trọng.

[1] Cương mục, tập 16, trang 86.

Share.

About Author

Leave A Reply