CÁC BÀ CHÚA THỜI LÊ – TRỊNH VỚI VĂN HÓA THĂNG LONG – Phần 1…Chào mừng ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10

0

CÁC BÀ CHÚA THỜI LÊ – TRỊNH VỚI VĂN HÓA THĂNG LONG

Nhà văn, Nhà báo Trương Thị Kim Dung

(Đăng trên kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia “Thăng long thời Lê – Trịnh” năm 2010 tại Hà Nội)

Người đời thường nói, đằng sau sự nghiệp, cuộc đời của người đàn ông có bóng dáng và những ảnh hưởng của người phụ nữ. Tìm hiểu, nghiên cứu về những người Phụ nữ liên quan trực tiếp đến số phận với người đàn ông có thể thấy rõ hơn chân dung, tính cách của họ và nhân vật thuộc “phái mạnh” thậm chí cả những sự kiện trọng đại của đời sống xã hội, lịch sử dân tộc. Vương triều Lê – Trịnh có nhiều cống hiến lớn trong tiến trình lịch sử canh tấn đất nước lên một tầm cao mới, trong đó có những đóng góp đáng kể như những dấu son rạng rỡ của các bà Chúa.

  1. Thái phi Trương Thị Ngọc Chử có công khôi phục chủa Hàm Long – Trung tâm phật giáo lớn ở Thăng Long.

Chùa Hàm Long nằm trong quận Hoàn Kiếm, tại số 18 Hàm Long (Hà Nội). Người ta đã lấy tên chùa đặt cho tên phố. Có lẽ đây là một trong những ngôi chùa cổ nhất của Thăng Long – Hà Nội. Nếu tính cả cơ sở đầu tiên là đền Hội Khánh (lập từ thời Hùng Vương thứ 18) thì di tích mang trong mình hơn hai nghìn năm lịch sử. Vẻ vang thay, chùa Hàm Long còn gắn liền với sự khai sinh kinh thành Thăng Long. Mùa Thu năm Canh Tuất (1010), vua Lý Thái Tổ cho đổi đền thành chùa và vị thần Ngô Long – một anh hùng có công bảo vệ đất nước, chống giặc ngoại xâm được thờ chung với chư Phật bồ tát. Sự kiện ấy đánh dấu một nét đặc trưng của Phật giáo Việt Nam lấy từ bi hỷ xả làm gốc vẫn nhận mạnh dũng khí – tài năng ngăn trừ tội ác.

chua-ham-long

Qua các triều đại, chùa Hàm Long càng thêm nổi tiếng, đông đảo khách thập phương chiêm bái sùng kính bởi vẻ đẹp kiến trúc và tính linh ứng của thần nhân. Thần phả ghi việc ngài Ngô Long “âm phù” vua Trần Nhân Tông đánh tan quân Nguyên Mông (thế kỷ XIII), giúp Bình định vương Lê Lợi chiến thắng 10 vạn quân Minh (thế kỷ XV). Thái phi họ Trịnh (vợ vua Lê Dụ Tông) cầu tự ở đây sinh ra Hoàng tử sau lên ngôi vua lấy hiệu là Ý Tông.

Vào thế kỷ XVIII, người có công phục hưng chùa Hàm Long trở thành một trung tâm Phật giáo lớn của thủ đô Thăng Long là Thái phi Trương Thị Ngọc Chử. Bà chúa đã xuất tiền riêng mua gỗ tốt, kén thợ giỏi để khởi công. Công trình được hoàn thành với quy mô tráng lệ trong vòng 12 năm (1702 – 1713).

chua-ham-long

Điều ấy đã được khắc ghi trên 2 tấm bia đá cỡ lớn có chiều cao 2,04m, rộng 1,65m, dày 0,6m được chạm khắc tinh xảo hình tượng hoa cúc, vân mây do 2 Tiến sỹ: Ứng Quận Công Đặng Đình Tướng (Quê Lương Xá – Chương Mỹ – Hà Tây, nay thuộc Hà Nội), Tiến sỹ Thượng thư Nguyễn Quý Đức (quê Đại Mỗ – Từ Liêm – Hà Nội) biên soạn. Xin trích một đoạn văn bia để hậu thế dễ hình dung ra diện mạo chùa Hàm Long ở thế kỷ XVIII:

“ Phía đông thành Thăng Long nước Đại Việt ta, có ngôi chùa cổ, biển đề chùa Hàm Long. Thật là đất phúc cõi thần tiên, tạo hóa dày công xếp đặt. Sông Nhị Hà, dòng Tô Lịch quanh bên tả và phía trước, điện Nam Giao, tháp Báo Thiên đứng sững bên hữu và phía sau.

Lâu đài san sát lộng lẫy, ông ấp cung Vua, sông núi tươi đẹp thiêng liêng mở chùa Phật. Đúng là một mơi danh thắng trong số 36 cõi Thiền”.

Tuy sống trong một “danh gia lệch tộc” xứ Kinh Bắc và làm dâu họ Chúa Trịnh nhưng bà Ngọc Chử vẫn sống bình dị nhân ái, thích làm việc thiện, dân gian truyền tụng ngợi ca:

“Việc công đức ra tay tế thế

Coi của mình như thể của dân

Suốt đời tích đức tu thân

Xây cầu sửa chữa đình chùa các nơi”

Hai văn bia: “Lịch sử bi”, “Công đức bi” ở Từ Vũ họ Trương (dựng trên gò Kỳ Ngộ tại Như Quỳnh) ghi việc bà Ngọc Chử hiến rộng cho làng Đình Loan và tu bổ một số di tích lịch sử văn hóa quốc gia chùa Dâu (Thuận Thành – Bắc Ninh). Chùa Hồ Thiên – một danh lam lớn trong quần thể di tích Yên Tử (Quảng Ninh), đặc biệt là những di tích lịch sử nổi tiếng như chùa Hàm Long ở Thăng Long. Tại làng Cự Linh (Gia Lâm – Hà Nội) có văn bia ghi lại việc bà Ngọc Chử xuất tiền riêng ra dựng Cầu Bây trên sông Nghĩa Trụ (năm 1738) để cho dân đi lại dễ dàng khỏi lâm cảnh lầy lội. Hiện khúc cầu đó vẫn còn trên đường Hải Phòng – Hà Nội (cách Hà Nội 10 km). Ông Bezacier – một học giả thuộc Viện Viễn Đông Bác Cổ (thời thuộc Pháp) đã nghiên cứu và viết bài về bà Ngọc Chử với cây Cầu Bây đăng trên tạp chí BEEI trang 397 và 1955.

Bà Chúa Trương Thị Ngọc Chử sinh ngày 26/4/1666 quê Như Kinh, còn gọi là làng Ghênh (nay là Như Quỳnh, Văn Lâm, Hưng Yên), phu nhân của Tân Quang Vương Trịnh Bính, mẹ đẻ An Đô Vương Trịnh Cương. Bà kết hôn với Tấn Quang Vương Trịnh Bính – con trai của Lương Mục Vương Trịnh Vịnh, cháu đích tôn của Chiêu tổ Khang vương Trịnh Căn.

chau-dau

Năm 1686, 17 tuổi sinh Trịnh Cương. Năm 1697 khi 28 tuổi, bà được tiến cử Thái Phi. Năm 1702, bà Ngọc Chử 33 tuổi thì Tấn Quang Vương Trịnh Bính đột ngột qua đời, Thế tử Trịnh Cương mới 16 tuổi nối ngôi Chúa được triều đình tấn phong là Khâm sai tiết chế các xứ thủy bộ chư doanh, kiêm Tổng chính cơ, Thái úy, An Quốc Công, cho mở phủ Lý Quốc.

“Phúc đức tại mẫu”, Chúa Trịnh Cương trở thành một trong 10 nhà cải cách lớn trong các thời đại ở nước ta cũng như là nhờ phần lớn công lao dạy dỗ, rèn cặp tâm tính của mẹ đẻ Trương Thị Ngọc Chử.

Hưởng phúc đến đời cháu là Dụ tổ Trịnh Giang và Nghị tổ Ân vương Trịnh Doanh, bà Ngọc Chử được tôn phong là Huy Nhu Thuần Đức Thái tôn Thái phi. Bà mất ngày 28/8/1750 năm thứ 11 Cảnh Hưng, thọ 84 tuổi.

Theo “Kinh bắc Trương Thị Như Quỳnh thế phả”: dòng họ Trương ở Như Quỳnh vốn là hậu duệ cảu Viễn tổ Trương Phóng (Trương Tích) – Thám hoa đời vua Trần Anh Tông và cũng là hậu duện của cha con ‘Bình Ngô khai quốc công thần” Trương lôi, Trương Chiến – 2 trong số 18 chiến tướng ở Hội thề Lũng Nhai đòng thời giữ vai trò nòng cốt trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn suốt 10 năm “nếm mật nằm gai” kháng chiến chống giặc Minh do Bình Định Vương Lê Lợi lãnh đạo.

Bà Trương Thị Ngọc Chử là con gái trưởng của cụ Diên Kháng Công Trương Dự, chị gái của Thiêm quận công Trương Nhưng, Phấn quận công Trương Nhiêu (Nhượng).

Do những công lao đóng góp nên khi bà Trương Thị Ngọc Chử tạ thế, triều đình đã gửi hậu hàng Tổng và cho dựng tượng thờ ở chính điện chùa Dâu (Pháp Vân tự) – một danh lam thắng cảnh nổi tiếng quốc gia ở thành cổ Luy Lâu (Thuận Thành – Bắc Ninh). Pho tượng chân dung bà Ngọc Chử cao 87 cm được tạc theo mẫu tượng Tứ pháp ở dạng bán thân tọa thiền. Hiếm thấy có pho tượng độc đáo như thế: Phần thân trên (từ bộ ngực, đôi tay đến khuôn mặt) được sơn mài màu trắng điệp gợi cảm giác da thịt nõn nà, tươi trẻ vì thế người đời còn gọi là “bà Chúa Ngà”. Hai cổ tay chạm vòng cườm (dấu ấn quý tộc). Nếu không xuất hiện chiếc mũ bụt ốc trùm đầu, người ta dễ liên tưởng: cảnh tượng trinh nữ đang tắm giữa đầm sen. Một vẻ đẹp vừa trần tục vừa siêu thoát.

ba-truong-thi-ngoc-chu

Tại lễ hội chùa Dâu (8/4 Â L) hằng năm, dân gian hàng Tổng rước tượng “bà chúa Ngà” Trương Thị Ngọc Chử và tượng “bà Hậu Khe” Nguyễn Thị Cảo (cụ nội nhà thơ Nguyễn Gia Thiều) sau tượng Phật mẫu Man Nương và tượng Tứ Pháp (Mây, Mưa, Sấm, Chớp) để tỏ lòng tôn kính.

  1. Chính Phi Nguyễn Thị Ngọc Tú – người tài năng, đức độ…

Bà là con gái Thái tổ Gia Dụ Hoàng đế Nguyễn Hoàng, là vợ Chúa Thanh Đo Vương Trịnh Tráng (1623 – 1657) đứng ra xây dựng chùa Báo Ân (còn gọi là chùa Quảng Bá) ở phường Quảng Bá, huyện Vĩnh Thuận, Phủ Phụng Thiên, nay là Quảng An, Tây Hồ, Hà Nội.

13076924_2047097585515729_7175544057528252780_n

Trong chùa hiện còn giữ nhiều hiện vật quý: 2 quả chuông đồng, trong đó một chuông niên hiệu Cảnh Hưng thứ 3 thời vua Lê Hiển Tông (1743), chuông cao 1,5m, đường kính rộng 0,8m, vai chuông khắc nổi 4 chữ Hán “Long Ân tự chung”. 30 tấm bia làm bằng những phiến đá xanh mịn, một tấm dựng vào năm Chính Hòa (1700). Đặc biệt có một bia khắc hình tượng một ni sư, nhiều người cho đó là hình tượng chúa Ngọc Tú. Hiện nay tại Lĩnh Nam, Hà Nội có đền thờ bà Chúa thờ bà chúa Nguyễn Thị Ngọc Tú.

13062463_2047096475515840_3600040971132788298_n

  1. Bà Chúa Đầm 60 năm xây dựng làng Mai Động

Là tên gọi dân gian chỉ 3 bà chúa họ Trịnh (Trịnh Thị Ngọc Khoa, Trịnh Thị Ngọc Sanh, Trịnh Thị Ngọc Nhĩ) giúp dân làng Mai Động (nay là phường Mai Động, quận Hai Bà Trưng) xây dựng quy mô các công trình đình chùa, chợ, cấp đất ao đầm để nuôi cá, trồng rau, phát triển kinh tế. Trong 60 năm bà chúa Đầm có 3 đợt đóng góp lớn. Nhớ ơn, dân tạc tượng thờ ở chùa và khắc bia “coi các bà như cha mẹ”. Về thân thế thì bà Trịnh Thị Ngọc Khoa là cung tần của Chúa Trịnh Tráng, vương tử Trịnh Thị Ngọc Sanh (áo thụng tay chảy dài đến gót chân – đây là áo cổ tròn tay thụng, mặc phủ ngoài, dùng cho lễ đại triều, có dãi lụa đệm xiêm, áo trong là áo tràng vạt) là con gái chúa Trịnh Tạc, vương tôn Trịnh Thị Ngọc Nhĩ ở Phủ Hùng Uy là con gái chúa Trịnh Căn và là cháu nội chúa Trịnh Tạc.

lang-mai-dong

  1. Bà chúa Mía – Phát triển nghề trồng mía truyền thống.

Ở nhà bái đường có một tấm bia đá có chiều cao hơn 1,6m, rộng 1,2 m đặt trên một con rùa đá đồ sộ, ghi lại sự tích dựng chúa Mía vào năm 1632 của cung phi Nguyễn Thị Ngọc Liệu – Người được nhân dân vùng Sơn Tây cũ đến các huyện Quảng Oai, Tùng Thiện và bên vùng Vĩnh Tường (Vĩnh Phúc) tôn là bà Chúa Mía vì có công phát triển nghề trồng mía. Tuy được tuyển vào Phủ chúa Thanh Đô Vương Trịnh Tráng ở Thăng Long, nhưng bà vẫn tha thiết với nghề làm mía của quê. Vì thế bà luôn về làng để khuyến khích mọi người trồng mía để làm mật, bánh kẹo. Do sủng ái Ngọc Liệu mà nhà Chúa đã mang xe kiệu về kẻ Mía để được gặp bà. Nhờ việc đề đạt phát triển trồng mía của bà với triều đình mà cả Tổng Mía đã trở nên trù phú. Khi bà mất, triều đình phong là Thượng Đẳng Thần, ngoài đền thờ ra nhân dân còn tạc tượng thờ bà trong chúa Mía – một danh lam thắng cảnh nổi tiếng xứ Đoài.

du-lich-chua-mia-ha-noi-mytour-13

  1. Chiêu nghi Vũ Thị Ngọc Xuyến – dựng đền Sóc thờ Thánh Gióng.

Vương phi của chúa Trịnh Tạc (1653 – 1682) đã bỏ tiền trùng tu đền Sóc tôn thờ Thánh Gióng – Một trong “tứ bất tử” của dân tộc ta và mua ruộng đất cúng thâm cho đền ở làng Cáo Xuân Đỉnh. Người đương thời gọi là bà chúa “đạc đất” cho dân ruộng đất, lại đặt nhiều phương pháp đo đất, đắp bờ hợp lý để nhiều đời không tranh chấp và cất lúa thuận tiện. Dân nhớ ơn thờ bà bằng pho tượng mây song.

du-lich-den-giong

  1. Chính phi Hoàng Thị Ngọc Phương

Một trong những di vật quý của chùa Liên Đàm (Linh đường – Thanh Trì) còn giữ được là bia “Khôn Trinh phủ bi ký” do Đông Các Đại học sĩ kiêm Quốc tử giám Phạm Trọng Khiêm biên soạn năm Cảnh Hưng thứ 34 (1771). Nội dung bia nói về công đức của bà Thái Phi Hoàng Thị Ngọc Phương với làng nước trong việc dựng chùa chiền, miếu phủ. Bà Chính phi này sinh được 2 nàng quận chúa: Trưởng nữ Trịnh Thị Ngọc Dịch gả cho Dương Trung Hầu Bùi Thế Toại – con trưởng của đoan  quận chúa; thứ nữ Trịnh Thị Ngọc Thuyên (Ngọc Lan) là một người “Phong tư nhân cách thanh tú”. “Chúa Trịnh rất yêu dấu, cho ở trong cung Thủy Tích, mỗi khi nàng vào hầu, chúa Trịnh vẫn cho nàng cùng ngồi. Nhiều bầy tôi sang trọng và có công lao đến cầu hôn, nhưng chúa Trịnh không gả”.

chua-lien-dam

  1. Thái phi Dương Thị Ngọc Hoan – xây dựng hành cung Yên Nghĩa và phát triển ca trù Thăng Long.

Buồn phiền vì không được sủng ái, đồng thời phòng xa những điều thị phi, hậu họa  cho con trai mình khi Chúa Trịnh Sâm đang say đắm Tuyên phi Đặng Thị Huệ, Thái phi Ngọc Hoan xin Chúa cho mở phủ Yên Nghĩa trên đường Vua, Chúa thường vào hành cung Tử Trầm (Chương Đức xưa) luyện võ, luyên quân. Chỗ đất ấy nằm cạnh đường 6, giữa 2 thôn Gio Lộ và Nghĩa Lộ (nay là xã Yên Nghĩa, Hà Đông, Hà Nội(. Nơi đây gần quê bà Nguyễn Thị Ngọc Phượng (Thái phi chúa Trịnh Căn) và thuộc địa phận “Tam Lộ, Ngũ Lãm” (Gio Lộ, Nghĩa Lộ, Yên Lộ; Thanh Lãm, Quang Lãm, Bắc Lãm, Đông Lãm và Thắng Lãm). Vùng này rất giỏi hát ả đào – một loại hình nghệ thuật truyền thống mà chúa Trịnh Sâm thường say mê, khuyến khích phát triển.

14572228_1429305040419876_2627140498710679751_n

Nể tình, Chúa sai đại thần Nguyễn Khản và bộ Công vẽ kiểu, đưa thợ về Nghĩa Lộ xây dựng cung thất. Tuy quy mô vừa phải nhưng hành cung cũng đủ: sảng đường, phòng thất, nội tẩm cho Thái Phi, Đông cung cho Thái tử, nhà học văn, luyện võ, nhà hát, nhà cho người ở, nơi dạy học… Công trình như một Phủ Chúa thu nhỏ. Ao Vạc cạnh làng Tuân được xây dựng thành hồ sen, thuyền rồng có thể bơi được, giữa là thủy đình, khuôn viên có bài trí nhiều cây, cỏ lạ và chim thú quý hiếm.

Thái phi có tậu hơn 30 mẫu ruộng để cấp cho những người đi lính gọi là “Binh Điền”. Từ khi Thái phi về đây, nhiều công trình xây dựng: Đường xá, đình chùa, văn hóa, kinh tế được mở mang…

Hiện di tích của Cung Phủ Bà Chúa còn nhiều hiện vật bằng đá, gỗ trong đó có câu đối:

Trường lưu Hát thủy Lê gia phái

Bán Nguyệt liên hồ Trịnh tích di

Dịch là

Họ Lê dài sâu như sông Hát

Hồ sen bán nguyệt là di tích Phủ Trịnh

14580519_498227437051280_2009286993_n

Do sự kiện thế tử Trịnh Khải trực tiếp liên quan đến vụ án năm Canh Tý 1780, chúa Trịnh Sâm nổi giận toan chém Trịnh Khải, giáng xuống làm con út và lập Trịnh Cán (con Tuyên phi Đặng Thị Huệ) lên ngôi Thế Tử lúc 5 tuổi. Điều Thái phi lo từ trước đã xảy ra. Khi Thịnh Vương Trịnh Sâm băng hà, qua cuộc binh biến Trịnh Khải lên ngôi Chúa, nhưng Thái phi phải đối mặt với nhiều chuyện rối ren của thời thế lúc bấy giờ nên bà ốm nặng và qua đời sau đó. Mộ bà táng ở khu ruộng “Trũng Táo” của làng Gio Lộ, dân gian vẫn gọi là Khi mộ Bà Chúa. Hằng năm ngày 16/2 Â L, dân làng tổ chức giỗ Thái phi Dương Thị Ngọc Hoan với tư cách là Thành hoàng làng. Cuối năm 2006, Nhà nước quy hoạch Trũng Táo thành khu công nghiệp, dân làng Nghĩa Lộ đã rước linh cữu bà Chúa vào trong khuôn viên Nhà tưởng niệm của thôn Nghĩa Lộ và xây lăng kiên cố. Khi di chuyển, ngội mộ không bật nắp ván, đã phải dùng cần cẩu để đưa toàn bộ quan, quách trộng bằng đá, vôi,… lên mặt đất.

14569648_498227600384597_79789534_n

  1. Tuyên phi Đặng Thị Huệ

Bia tượng chân dung ‘bà Chúa Chè” được thờ hậu ở chùa Thầy do bà có nhiều công đức trùng tu di tích nổi tiếng có từ triều Lý ở xứ Đoài này. Đây là bia tượng phù điêu đẹp, tượng tạc ngồi trong khám, phần trang trí theo nghi thức triều đình, có giá trị về nghệ thuật chạm khắc. Bà còn cung tiến đôi lục bình và đôi chóe cổ vào đền thờ Phù Đổng (Gia Lâm) thờ đức Thánh Gióng. Bà còn xây dựng chùa Bách Môn (chùa 100 cửa) – một ngôi chùa đã được đời sau đánh giá cao: có kiến trúc độc đáo nhất Đông Dương ở núi Khán Sơn (Tiên du – Bắc Ninh).

rlz1366258692

Còn nữa……

Kỳ sau sẽ viết về các bà Chúa với tác phẩm ‘Để đời”… như Chiên nghi Trương Thị Ngọc Trong và tác phẩm thơ nôm “Hoàng Thái hậu Ỷ lan sự tích diễn ca”; Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc – Người đầu tiên soạn từ điển Hán Nôm; Bà chúa thơ tình Nguyễn Thị Ngọc Vinh; … mời đồng tộc, thân tộc Trịnh đón đọc…

 

Share.

About Author

Leave A Reply