CÁC BÀ CHÚA THỜI LÊ – TRỊNH VỚI TÁC PHẨM ĐỂ ĐỜI – Phần 2…Chào mừng ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10

0

CÁC BÀ CHÚA THỜI LÊ – TRỊNH VỚI TÁC PHẨM ĐỂ ĐỜI

Nhà văn, Nhà báo Trương Thị Kim Dung

  1. Chiêu nghi Trương Thị Ngọc Trong và tác phẩm thơ Nôm Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan sự tích diễn ca”

Trương Thị Ngọc Trong, hiệu diệu Nhân Chân Nhân giỗ ngày 28 tháng 11 âm lịch, làm hậu ở chủa Phố Quang và chùa Ba La tại bản xã Như Quỳnh (Văn Lâm, Hưng Yên). Bà Ngọc Trong là người con gái đầu tiên của học Trương được tuyển vào phủ Chúa (Trịnh Căn), được phong Tu Nghi, gia phong Chiêu Dung rồi Chiêu Nghi rồi Thị nội cung tần Thượng hòa Tôn Thái phu nhân. Bà là con gái trưởng cụ Nhượng quận công Trương Nghiêm (tự Phúc Gia, thụy Đôn Lễ) làm quan tới chức Đô đốc phủ, đô đốc đồng tri tước phong Nhượng quận công và cụ bà Nguyễn Thị, hiệu diệu Hải Ninh, Thiết chân nhân, được tặng phong Quận phu nhân. Hai cụ chỉ sinh được hai con gái (Trương Thị Ngọc Trong và Trương Thị Thục Trinh).

48456481

“Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan – sự tích diễn ca” của Chiêu nghi Trương Thị Ngọc Trong là tác phẩm viết bằng chữ nôm theo thể thơ lục bát truyền thống, gồm 298 câu 6 – 8 và 2 bài kệ (mỗi khổ 4 câu 5 chữ). Công trình hoàn tất vào tháng 8 niên hiệu Cảnh Hưng thứ 20 (tháng 9 – 1759), Hiện còn bản lưu ở Viện Hán Nôm số A.959. Theo học giả nổi tiếng Hoàng Xuân Hãn: “Toàn bản diễn ca chỉ là văn kể chuyện. Nhưng lời văn gọn gàng, giản dị mà không quê, dùng chữ đầy đủ mà không nặng nề”. Và theo nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Đặng Văn Lung thì: “Tất cả vẻ đẹp của bài ca nằm trong mỗi chi tiết. Mỗi chi tiết là một thỏi vàng được đúc từ văn hóa tiên tổ”. Trong thời đại phong kiến Việt Nam, tác phẩm văn học của phụ nữ là rất hiếm, nhất là thơ Nôm.

“Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan – sự tích diễn ca” là một tác phẩm văn học của một phụ nữ tài hoa ra đời vào cuối triều Lê Trịnh (Thế kỷ XVIII) viết về một phụ nữ đồng hương sống cách thời đại mình 7 thế kỷ.

chuathay_973312138

Trương Thị Ngọc Trong am hiểu sâu sắc lịch sử nhà Lý cũng như lai lịch gốc tích Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan mới tái dựng được “chân dung văn học” khá sinh động: từ lúc ấu thơ đế thời thiếu nữ xinh đẹp, cơ hàn cho tới khi gặp vua Lý Thánh Tông mở hội cầu duyên… Toàn bộ hành trạng của Hoàng Hậu Ỷ Lan trong chốn cung đình được tường thuật tỉ mỉ, đặc biệt đề cao vai trò hai lần nhiếp chính của bậc nữ lưu siêu Việt. Lần đầu, thay chồng trị nước để vua Lý Thánh Tông yên tâm đánh giặc phương Nam:

Mở kho dân đói yên lòng

Thân chính thẩm sát trị phường quan tham

Cung nhân được học tầm tang

Thêu thùa may mặc đảm đang mọi nghề

Hữu cho gia thất đề huề

Ở cung đủ hạn cho về kịp duyên

Lần thứ hai (vua Lý Nhân Tông nối ngôi) Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan thay con nhiếp chính. Bà cùng Lý Đạo Thành, Lý Thường Kiệt bàn việc chống quân xâm lược Tống. Dưới sự chỉ huy của Lý Thường Kiệt, đất nước Đại Việt đại thắng vẻ vang.

Về nội trị, Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan ban hành nhiều chính sách tốt đẹp.

Lệnh truyền giảm thuế xá tô

Trâu cày chấm giết, ruộng bờ dâu xanh

Chỉnh đến nội các mạnh lành

Trung thần trọng dụng trị thanh gia tà

Thôn quê rừng nuuis mọi nhà

Âu ca trăm họ thái hòa muôn dân

Vốn là người sùng mộ đạo phật, những năm cuối đời, Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan dôc tâm sức xây dựng nhiều đền đài chùa tháp khuyến khích học hành, khao thưởng tăng – ni mẫn, mở hội lớn lamg nên những sự kiện lịch sử mang bản sắc dân tộc.

Lại phát ba nghìn cân đồng

Đúc chương tô tượng hưng công để truyền

Danh lam cổ tích gia chiền

Trùng tu tân tạo phương viên mọi tòa

Có thể nói “Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan – sự tích diễn ca” biểu hiện sự kính phục mến mộ của một phụ nữ thời Lê – Trịnh đối với Đức hạnh, sự nghiệp của một phụ nữ danh nhân văn hóa thời Lý. Tác phẩm được diễn đạt bằng thơ Nôm ngắn gọn với nhiều câu hay, vì vậy mà trở thành tác phẩm độc đáo.

“Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan – sự tích diễn ca”  là một bằng cứ khẳng định khả năng sáng tác văn học của phụ nữ đương thời.

Sau khi in xong tác phẩm thơ Nôm ““Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan – sự tích diễn ca”  của Chiêu Nghi Trương Thị Ngọc Trong thì toàn bộ văn khắc tàng bản đó được lưu giữ tại phủ Chí Nguyên – nhà thờ họ Trương ở Như Quỳnh.

Theo lời phụ chú, “Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan – sự tích diễn ca” thì “Kinh Bắc Như Quỳnh Trương Thị Thế phả, Chi Nguyên cung phủ miếu báu tàng”. Nghĩa là: “Sách chép chuyện các đời về họ Trương ở xã Như Quỳnh, xứ Kinh Bắc, là họ ngoại Chúa. Phủ miếu Chí Nguyên cung trân trọng giữ”. Đây là tác phẩm có giá trị “để đời”, là những tư liệu quý đối với lịch sử văn hóa dân tộc, cần được tái bản nhiều lần để phổ cập đại chúng trong dịp Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thang Long – Hà Nội.

  1. Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc – người đầu tiên soạn từ điển Hán Nôm

Giáo sĩ Alexandre de Rhodes trong thời gian ở Tháng Long từng được tiếp kiến bà nhiều lần có nhận xét rằng, bà giỏi Phật pháp, sư sãi gọi là thầy, nghĩa là bậc tôn sư. Ông còn viết về Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc như sau: “bà” rất thông chữ Hán, giỏi về thơ. Chúng tôi gọi bà là Ca – tê – ri – na vì bà giống Thánh nữ vì sự nhiệt tâm cũng như về đạo hạnh, về những đức tính tinh thần cũng như sang trọng về dòng họ”.

13103409_2047097452182409_6579274051365626245_n

Bà có vẻ đẹp quý phái thông tuệ, bản tính hòa nhã, phú hậu. Tại chủa Bút Tháp (Thuận Thành – Bắc Ninh) đã đặt ngai vị và tạc tượng thờ Diệu Viên Trịnh Thị Ngọc Trúc, và hai văn bia soạn năm 1646 và 1647 đều ngợi ca công đức của bà. Tại chùa Mật (thuộc Thành phố Thanh Hóa), có thờ pho ttuwowngj sơn son thếp vàng, tạc chân dung bà đang tọa thiền rất uy nghi, thanh thoát, hiện nay (từ năm 1992) pho tượng bà Trịnh Thị Ngọc Trúc đã được chuyển đặt trong tủ kính, trưng bày tại viện Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam bởi tác phẩm điêu khác này rất đặc sắc về nghệ thuật điêu khắc thời Lê – Trịnh.

13095908_2047098958848925_7178824417601629643_n

Theo sách “Kim tóa thực lục”, “Trịnh vương Ngọc phả”, Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (1595 – 1660) là con gái thứ của Thanh Đô Vương Trịnh Tráng với Chính phi Nguyễn Thị Ngọc Tú. Trịnh Thị Ngọc Trúc thông minh từ nhỏ, rất hiếu học. Mới 9, 10 tuổi đã đọc thông, viết thạo cả chữ Hán lẫn chữ Nôm, đọc làu kinh sử, giỏi văn thơ, sùng Đạo Phật. Trong phủ Chúa ai nấy đều kính nể. Đời chồng trước của bà là Cường Quốc Công Lê Trụ – Bác họ của vua.  Vì phản nghịc, Lê Trụ bị giam ngục rồi mất. Đến năm Đức Long thứ 2thangs 5 năm 1630 bà 36 tuổi được Chúa Trịnh Tráng gả cho vua Lê Thần Tông (1619 – 1642) nhằm rằng buộc, củng cố quyền lực nơi vương phủ và bà đã được tấn phong Hoàng Hậu. Bà có người con gái (công chúa Lê Thị Ngọc Duyên, danh Diệu Tuệ) với vua Thần Tông cũng giỏi văn thơ chữ nghĩa. Sở trường của Hoàng Hầu Trịnh Thị Ngọc Trúclà văn chương ngôn ngữ, đặc biệt bà có nhiều suy nghĩ về tiếng nói chữ viết của nước nhà. Chữ Nôm được sử dụng từ thời Trần và phát triển cực thịnh ở thời Lê, nhưng chưa có ai làm sách từ vị, thu thập giải nghĩ các tiếng và cách viết. Vì vậy bà đã công phu biên khảo thành bộ từ điển Hán – Nôm “Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa”. Hhoangf hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc là người đầu tiên biên soạn bộ từ điển Hán Nôm ở nước ta: “Chỉ Nam ngọc âm giải ngĩa” gần 3.000 câu, gồm 40 chương. Sách có quy mô đồ sộ hơn hản so với một số từ điển cùng tính chất ấy được biên soạn vào các thế kỷ sau. Chỉ tính số lượng chữ Hán đã lên đến 3.200 từ, trên 7.000 chữ hán. Nếu tính số câu thơ thì có 2900 câu không kể phần bổ di. Tổng số chữ cả Hán lấn Nôm mà sách chứa là trân 24.000 chữ. Sách sắp xếp thành 40 chương bộ: Thiên văn địa lý, nhân luận, nhân thể, tạng phủ, y quan tế khí, binh khí, pháp khhis, nhạc khí, văn tự hôn nhân…

13094219_2047098142182340_3555817202324259841_n

Điều đặc biệt nhất là trong mỗi bộ loại, cả từ chữ Hán và lời giải nghĩa chữ Nôm được trình bày bằng các câu thơh hầu hết là thể lục bát. Mỗi câu thơ giải nghĩa một từ hán, có khhi hai câu giải nghĩa một từ. Có loại chỉ mươi câu, có bộ lại tới vài trăm câu. Bài thơ ngắn nhất (11 câu): “Tang lễ bộ”, bài thơ dài nhất (460 câu): “Nam dược loại”. Có thể đánh gái đay là bộ từ điển bằng thơ … Thông thường người ta thường nghĩ rằng, bằng phương tiện văn vần thì khó lòng mà chuyển tải chính xác nội dung các từ ngữ cần giải nghĩa, thích danh. Ngược lại, cuốn từ điển của Trịnh Thị Ngọc Trúc lại đảm bảo những tiêu chí đồng thời khiến mọi người dễ nhhows, dễ thuộc.

Ví dụ về mục quan hệ gia đình được ghi cụ thể:

Tổ mẫu: là bà nội nay

Nghiêm phụ: thủa này thực ấy cha sinh

Thánh thiện mẹ đẻ ra mình

Tôn sư: Thấy cả

Hữu bằng: Bạn tin

Xá huynh: anh cả thảo hiền.

Về thiên văn:

Kim ô mặt trờ sáng hông

Thiền luân; nguyệt sáng trên không làu lầu

Phong thanh gió mát bên lầu.

“Chỉ Nam ngọc âm ggiair nghĩa” là một kho báu về tư liệu ngôn ngữ mang tính chất bách khoa thư. Ví như thủy sản (tôm á) đã trình bày gần 100 loài, chim trên 50 loài.đồ vật chiếu bát ấm chén gia đình 40 loại, vải 8 loại, gấm 5 loại, là 10 loại, lụa 6 loại.  Nhạc cụ cổ hơn 20 loại, vàng bạc chì 16 loại…

Thông qua tác phẩm của bà, đời sau càng thêm hiểu rõ sự phát triển văn học cũng như kinh tế hhoangf hóa Đàng Ngoài thời Lế – Trịnh. Thời chúa Trịnh Tráng, nước ta đã có phố Hiến giao thương với nhiều nước: Anh, Hà Lan, Indonesia, Thái Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Nhật Bản, Trung Quốc… buôn bán các mặt hàng tơ lụa gấm vóc, trầm hương đồ gốm, đồ sứ, muối, quặng thiếc… và ở kinh thành Thăng Long  đã có thương điếm Hà Lan. Chính trong thời kỳ này đã xuất hiện câu ca “Thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhà phố Hiến”. Tuy ở ngôi cao quý, lại là dòng dõi trâm anh thế phiệt nhưng bà không màng đến sự giàu có phú quý mà luôn giúp đỡ những người nghèo khó và lập chùa chiền ở các nơi. Bà được Thiền sư Chuyết Chuyết ban cho bà pháp danh là Diệu Viên. Năm 1642, vua Lê Thần Tông mất, Hoàng hậu đến tu và ở hẳn chùa Bút Tháp. Từ đó bà vừa tu luyệ, vừa được dịp học hỏi nghiên cứu sâu xa thêm về kinh điển của nhà Phật chú tâm kinh kệ, miệt mài nghiên cứu bộ Kim cưowng – một bộ kinh cốt tủy của nhà Phật. Sử chép bà thường bàn luận thơ phú cũng như Phật pháp với nhiều vị Thiền sư ở các chùa chiền Kinh Bắc thời bấy giờ. “Bà chúa Kim Cương” Trịnh Thị Ngọc Trúc còn là tác giả “Phật thuyết báo phụ mẫu ân trọng kinh”. Đây là một tác phẩm có giá trị nghiên cứu về Phật học nước ta.

13096355_2047096575515830_3909997279672028940_n

Khi chùa Bút Tháp tổ chức Khuyến hóa thập phương để trùng tu tôn tạo, hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc đã đóng góp công đức rất nhiều. Nhờ sự bảo trợ đắc lực của bà mà đại danh lam Bút Tháp (Thuận Thành – Bắc Ninh) được khôi phục. Pho tượng Phật bà “nghìn mắt nghìn tay” là pho tượng độc nhất vô nhị do Nam tước Trương Thọ tạc suốt 3 năm trời mới xong, đánh dấu phần nào công trạng của Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc – một phụ nữ luôn ngưỡng vọng, suy tôn những ý tưởng sáng tạo và điều thiện.

Hai cuốn sách đồng khắc chữ Hán rất đẹp và gần như mới (mỗi cuốn nặng 30 kg, kích cỡ 14, 4x 25 cm gồm 56 tòe, được bọc kĩn trong những lớp giấy dó, cùng hai cây kim loại dùng để lật sách trông tựa như những chiếc trâm cài tóc của phụ nữ) được tìm thấy tại chùa Bút Tháp vào tháng 4 -2009 đã hé lộ bút tích thư pháp tài hhoa và tinh thần sùng tín Phật giáo của “Bà Chú Kim Cương” Trịnh Thị Ngọc Trúc. Đây là hai cuốn sách mang tính chất tùy táng”, được đúc để táng vào đỉnh tháp Tôn Đức cao11m, nơi đặt xá lị Thiền sư Minh Hành – người từng trụ trì tại chùa (viên tịch năm 1659) và cũng là bậc thầy của ni sư Diệu Viên Trịnh Thị Ngọc Trúc. Hưởng ứng việc làm của bà, các hoàng thân quốc thích cũng hiến ruộng (tư điền) vào chùa làm công quả.

  1. Bà chúa thơ tình Nguyễn Thị Ngọc Vinh

Số lượng nhà thơ nữ thời phong kiến rất khiêm tốn, có thể đếm trên đầu ngón tay. Vì những quy định, những lễ giáo ràng buộc của gia đình và xã hội mà người phụ nữ xưa thường dám thổ lộ nỗi lòng thầm kín của mình với bất cứ ai chứ chưa nói gì đến chuyện làm thơ tình. Duy trong lịch sử văn học Việt Nam có trường hợp “độc nhất vô nhị” là Nguyễn Thị Ngọc Vinh – chính phi của chúa Trịnh Doanh. Bà còn có tên là Nguyễn Thị Bản, Minh Vương Trịnh Doanh rất sủng ái thường gọi tên nôm là Vang nên mọi người gọi theo là chúa Vang. Bà là con gái Luân Quận Công, quê ở làng Thạnh Mỹ, huyện Lôi Dương (Thanh Hóa), từ nhỏ bà đã được vào cung tập lễ giáo và học văn thơ với bà Chiêu Nghi Trương Thị Ngọc Trong, tác giả truyền thơ Nôm “Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan – Sự tích diễn ca”.

rlz1366258692

Đã thông minh lại có học vẫn, quận chúa Nguyễn Thị Bản được tuyển vào cung và được sách phong Vương phi của chúa Trịnh Doanh. Không chỉ thạo chữ Hán, Nguyễn Thị Bản còn giỏi Quốc âm và thơ có nhiều tứ là, nổi tiếng trong giới văn nhân chốn cung đình đương thời.

Trong cuốn “Nữ lưu văn học sử” xuất bản năm 1929, Sở cuồng Lê Dư theo “Nét bút giai nhân” của Quách Tấn có chép một bài thơ Đường luật đều có nhan đề là “Tự tình văn”. Chuyện kể rằng năm Cảnh Hưng thứ 20 (1760) vì ghen nên chính phi Nguyễn Thị Bản (Ngọc Vinh) đã cầm hộp trầu ném cung tần Nguyễn Thị Mỹ, chẳng may trúng vào tay Minh vương Trịnh Doanh nên Chúa giận và xa lánh bà. Sống trong nỗi cô đơn, buồn nhớ và hối hận, chính phi Nguyễn Thị Ngọc Vinh đã dùng thơ bày tỏ sự thương nhớ chồng tha thiết và mong được khoan dung lỗi lầm. Chính tâm sự bằng thơ ấy của nàng đã khiến chúa Trịnh Doanh cảm động và cho đón nàng trở lại cung. Có lẽ chính phi Nguyễn Thị Ngọc Vinh là người viết thơ tình sớm ở nước ta, đặc biệt dám thổ lộ “cái tôi” hết sức chân thành qua những vần thơ viết cho người chồng yêu quý là Minh Vương Trịnh Doanh.

Xin chép nguyên văn thơ tình của bà chúa Vang để bạn đọc tham khảo.

Trời cao muôn dặm thẳm xa

Quảng Hàn nỡ để Hằng Nga lạnh lùng

Tưởng nguồn cơn khéo chạnh lòng

Trách duyên dám trách cửu trùng thắm phai

Vả tôi kém sắc phạp tài

Nhằm thương muôn đội lượng trời chở che

Xét mình Bồ Liễu le te

Dám rằng Cù mộc dám khoe hảo cầu

Phận thường mọn mảy nữ lưu

Muôn mong xét biết ái ưu ghi lòng

Sắc vàng rờ rỡ đề phong

Những mong chỉ phút xứng công báo đền

Tuy rằng kỳ ngộ Thiên duyên

Gót đầu toàn đội ơn trên tài bồi

Non ân bể đức bằng trời

Muôn phần báo đáp chưa vời một ly

Trôm xem trên cả nhân nghi

Vạy nên áy náy bấc chi mỉa mai

Tay đâu bưng được miệng ai

Nắng mưa cũng tiếng mỉa mai lọ là

Thấy chiều chưa nguyệt phai hoa

Thừa cơ dễ khiến dèm pha nhiều điều

Nghĩ rằng đức Thuấn nhân Nghiêu

Chở che dù có đăm chiêu dày vò

Chắc rằng sông núi hẹn hò

Hay đâu bể ái chút dò cũng hao

Đạo màu há dám rằng sao

Canh chầy vò võ lầu cao nguyệt tà

Tưởng khi cầm sắt khúc hòa

Trăm năm Cù mộc một nhà Trúc mai

Bây giờ tin diễn vẵng lai

Cửa ngăn dây gió nguyệt cài then sương

Tưởng khi đầm ấm thiên hương

Ngửa trông một nghĩa để gương muôn đời

Bây giờ gần bến xa rời

Một lòng khôn thở nhiều lời nể nang

Tưởng khi lạm sanh nhà vàng

Nghìn năm để trách một trường áng xuân

Bây giờ cách diễn ải Tần

Một bề trực đức chín lần khôn thâu

Càng phen càng bối rối sầu

Ngu trung dễ thấu nhiệm màu thiên cơ

Cớ chi nên nỗi sinh sơ

Bâng khuâng lòng ước ngẩn ngơ dạ phiền

Vì con chồi Quế non Yaan

Thì chi đến nỗi nhiều phen thế này

Nhởn nhơ song dạ khôn khuây

Buồn xen bể nữ nước mây thêm ngừng

Nhiều phen sấm chớp vang lừng

Bồ hòn đã đắng thì gừng lại cay

Nào khi giá ngự bình tây

Cần lao dám ngài nước mây sương hàn

Dày êm gối biếng ngôi Càn

Tấc gang nỡ để mấy ngàn riêng tây

Vụng lầm vả tiếng một ngày

Nỡ cho kẻ mọn sánh bầy rao ca

Quản chi phận tiện dã hoa

Nữa trong thể thống quốc gia nhường nào

Dám xin tài quyết lượng cao

Quyền cương nỡ để tay trao kẻ ngoài

Vững phù mạnh nước lâu dài

Dẫu sao thì cũng là người nhà vương

Trót đà làm dự tào khang

Trị bình cũng lấy tam cương làm đầu

Ngập ngừng kể lấy sự đầu

Bút hoa mấy chữ lệ châu đôi hàng

Cả lòng xin trước nhà vàng

Cây gương nhật nguyệt rõ ràng tiêu lâm

Nghìn năm khắc cốt minh tâm

Kể nông nổi chữ tình thâm thế cười

Nền vương sáng rỡ giữa Trời

May nhờ hồng phúc muôn đời lâu xa

“Tự tình văn”

Mon mảy muôn trông đức cửu trùng

Trời cao đất rộng kể khôn cùng

Trân reo bệ ngọc còn e lệ

Hương bén phòng tiêu luống ngại ngùng

Đếm tóc chưa đền ơn Thánh đức

Dắt tơ nay cậy đức Thiên công

Khôn trình ước vẹn niềm trung ái

Ngõ thóa công sau đức thuận tòng

Theo sử sách cổ và “Kim giám lục biên”, Trịnh Điện là đất an táng của chúa Trịnh Doanh: “Năm Đinh Hợi (1767), chúa Trịnh Doanh qua đời… có trăng trới sau khi ông mất phải an táng thi hài ông cùng huyệt với bà Chính phi Nguyễn Thị bản (mất 1765) ở “đất quý hương” Trịnh Điện (Yên Định – Thanh Hhoas). Sau 3 tháng tạm quàn thi hài tiên vương ở cung Tây Hồ, tháng 4 năm 1767 Tĩnh vương Trịnh Sâm cho cử hành lễ an táng Ân vương Trịnh Doanh, đưa về núi Chân Tiên để an táng cùng nơi với Chính phi Nguyễn Thị Bản. Sách “Hậu Lê thời sự kỷ lược” chép rằng: “Đến hôm đem quan tài xuống thuyền đưa về núi Chân Tiên. Trịnh Sâm trông thấy bà Bản ngồi thuyền thuận xuôi dòng đến gần chỗ thuyền chở quan tài Ân vương Trịnh doanh thì không thấy nữa”.

 

 

 

Share.

About Author

Leave A Reply